Đào tạo nghề chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi người học có thể bước ra khỏi cánh cửa nhà trường và tìm được một công việc phù hợp với những gì đã được học. Trong bối cảnh thị trường lao động thay đổi nhanh, yêu cầu về kỹ năng ngày càng cao, việc tăng cường hợp tác giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp và các tổ chức liên quan đang trở thành một trong những hướng đi quan trọng để rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng lao động.

Một bước tiến mới theo hướng này là việc Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 72/2026/TT-BGDĐT quy định về hợp tác, liên kết đào tạo trong giáo dục nghề nghiệp. Thông tư thay thế Thông tư số 05/2022/TT-BLĐTBXH và sẽ có hiệu lực từ ngày 12/10/2026.
Điểm đáng chú ý của quy định mới là phạm vi hợp tác trong giáo dục nghề nghiệp được mở rộng. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp có thể hợp tác với cơ sở giáo dục, cơ quan nhà nước, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và các tổ chức công nghệ trong nước.
Sự mở rộng này tạo thêm điều kiện để nhà trường không hoạt động tách biệt với thị trường lao động. Thay vì chỉ tập trung vào việc tổ chức chương trình và cấp bằng, cơ sở giáo dục nghề nghiệp có thể chủ động kết nối với nhiều đối tác để chia sẻ nguồn lực, cập nhật yêu cầu nghề nghiệp và đưa những vấn đề thực tế của sản xuất, kinh doanh vào quá trình đào tạo.
Đặc biệt, Thông tư nhấn mạnh việc hợp tác đào tạo phải gắn với nhu cầu sử dụng lao động. Doanh nghiệp có thể tham gia thông qua đặt hàng đào tạo, tiếp nhận người học đến thực hành, thực tập, hỗ trợ tuyển dụng và giới thiệu việc làm sau đào tạo.
Đây là điểm có ý nghĩa trực tiếp đối với người học nghề. Một chương trình đào tạo được thiết kế dựa trên nhu cầu thực tế của doanh nghiệp sẽ giúp người học có cơ hội tiếp cận sớm hơn với công nghệ, thiết bị, quy trình sản xuất và môi trường làm việc thực tế. Quan trọng hơn, quá trình học có thể gắn với một vị trí việc làm cụ thể thay vì chỉ dừng ở việc hoàn thành chương trình.
Với doanh nghiệp, việc tham gia sâu hơn vào đào tạo cũng giúp chủ động tạo nguồn nhân lực phù hợp. Thay vì tuyển người rồi tiếp tục mất thêm thời gian và chi phí để đào tạo lại, doanh nghiệp có thể phối hợp với nhà trường ngay từ đầu để xác định yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và tác phong nghề nghiệp.
Trong bối cảnh nhiều ngành đang thiếu lao động có kỹ năng, cách tiếp cận này càng trở nên cần thiết. Thị trường không chỉ cần số lượng lao động mà ngày càng đòi hỏi những người có thể vận hành thiết bị hiện đại, thích ứng với công nghệ mới và nhanh chóng đáp ứng những thay đổi trong quá trình sản xuất.
Một điểm mới khác của Thông tư là cơ sở giáo dục nghề nghiệp có thể liên kết với cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp, tổ chức giáo dục và doanh nghiệp trong nước để thành lập khoa, trung tâm hoặc đơn vị đào tạo chuyên môn. Quy định này mở thêm khả năng huy động nguồn lực xã hội cho đào tạo nghề, đồng thời tạo điều kiện để những mô hình đào tạo gắn chặt hơn với từng lĩnh vực chuyên môn được hình thành.
Tuy nhiên, mở rộng hợp tác cũng đồng nghĩa với yêu cầu cao hơn về chất lượng và trách nhiệm. Thông tư quy định rõ trách nhiệm quản lý, kiểm tra, giám sát từ điều kiện tổ chức, tuyển sinh, thực hiện chương trình đến chất lượng đào tạo, đội ngũ nhà giáo, cơ sở vật chất, thiết bị và việc thực hiện hợp đồng liên kết.
Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có hoạt động hợp tác, liên kết đào tạo phải công khai thông tin và cập nhật đầy đủ, kịp thời dữ liệu trên hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành về giáo dục nghề nghiệp. Hằng năm, trước ngày 15/1 của năm tiếp theo, cơ sở phải báo cáo tình hình hoạt động hợp tác, liên kết của năm trước. Nếu dữ liệu đã được cập nhật đầy đủ trên hệ thống thì không phải báo cáo lại những nội dung đã có, trừ trường hợp phục vụ thanh tra, kiểm tra hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Ở cấp địa phương, Sở Giáo dục và Đào tạo nơi cơ sở giáo dục nghề nghiệp đặt trụ sở chính có trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi và kiểm tra hoạt động hợp tác, liên kết. Sở cũng tiếp nhận, xử lý hoặc kiến nghị xử lý các phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo liên quan; đồng thời quản lý và khai thác dữ liệu thuộc phạm vi quản lý. Hằng năm, trước ngày 30/1, Sở tổng hợp và gửi báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng UBND cấp tỉnh về tình hình hợp tác, liên kết đào tạo trên địa bàn.
Nhìn từ phía người học, giá trị lớn nhất của việc mở rộng hợp tác không nằm ở số lượng thỏa thuận được ký kết, mà ở khả năng biến những mối liên kết đó thành cơ hội học tập và việc làm thực chất.
Một sinh viên, học sinh trường nghề được doanh nghiệp tiếp nhận thực tập sẽ có cơ hội hiểu rõ hơn về công việc trước khi bước vào thị trường lao động. Một chương trình được doanh nghiệp đặt hàng sẽ giúp nhà trường biết thị trường đang cần kỹ năng nào. Và nếu quá trình đào tạo được nối tiếp bằng tuyển dụng, khoảng cách giữa “học nghề” và “có việc làm” sẽ được rút ngắn đáng kể.
Đây cũng là hướng đi phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong giai đoạn mới. Khi công nghệ, mô hình sản xuất và nhu cầu tuyển dụng thay đổi nhanh, chương trình đào tạo không thể giữ nguyên trong thời gian dài mà cần được cập nhật thường xuyên. Doanh nghiệp chính là một trong những nguồn thông tin quan trọng giúp nhà trường nhận diện những thay đổi đó.
Về lâu dài, sự hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp cần được nhìn nhận như một quan hệ cùng có lợi. Nhà trường có thêm nguồn lực, thông tin về thị trường và môi trường thực hành cho người học; doanh nghiệp có thêm kênh phát triển nguồn nhân lực; còn người học có cơ hội tiếp cận nghề nghiệp thực tế và nâng cao khả năng tìm được việc làm sau tốt nghiệp.
Thông tư 72/2026/TT-BGDĐT vì thế không chỉ đặt ra một khung pháp lý cho hoạt động hợp tác, liên kết đào tạo mà còn mở rộng hơn không gian để giáo dục nghề nghiệp kết nối với thị trường lao động. Điều quan trọng trong quá trình triển khai sẽ là biến những quy định trên thành các mô hình hợp tác thực chất, trong đó doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào đào tạo và người học nhận được lợi ích rõ ràng nhất: học đúng kỹ năng, thực hành đúng môi trường và có cơ hội việc làm phù hợp sau khi tốt nghiệp.
Phan Linh
Hotline: 
Bình luận đã đóng.