Từ việc coi doanh nghiệp là “chủ thể đào tạo” đến hệ thống ưu đãi mạnh tay của nhà nước, Trung Quốc đã xây dựng mô hình giáo dục nghề nghiệp (GDNN) gắn chặt với nhu cầu thị trường. Phóng viên Nghề nghiệp & Cuộc sống đã có cuộc phỏng vấn độc quyền với ông Trương Khải – Tổng giám đốc Công ty TNHH Công nghệ ô tô Vũ Hán, cũng là người sáng lập Tập đoàn Công nghệ giáo dục Trung Quốc để có những góc nhìn đa chiều về các vấn đề tồn tại của GDNN Việt Nam cũng như chia sẻ những kinh nghiệm quý báu từ Trung Quốc.

Ông Trương Khải – Tổng giám đốc công ty THNN Công nghệ ô tô Vũ Hán, người sáng lập Tập đoàn Công nghệ giáo dục Trung Quốc
“Chiến lược quốc gia + hợp tác đa bên”: Nền tảng của thành công
PV: Ông có thể chia sẻ kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc thúc đẩy phát triển GDNN, tập trung vào cả thực tiễn doanh nghiệp và hỗ trợ chính sách?
Ông Trương Khải: Kinh nghiệm cốt lõi của GDNN Trung Quốc nằm ở “chỉ đạo chiến lược quốc gia + hợp tác đa bên”. Ở cấp độ chính sách, nhà nước coi là một loại hình giáo dục có tầm quan trọng ngang bằng với giáo dục phổ thông. Trong thời kỳ Kế hoạch 5 năm lần thứ 14, Trung Quốc đã lên kế hoạch đưa GDNN vào lộ trình cốt lõi xây dựng xã hội dựa trên kỹ năng; “Ý kiến về thúc đẩy phát triển chất lượng cao của GDNN hiện đại” năm 2021 đã hệ thống hóa khuôn khổ “tích hợp công nghiệp – giáo dục và hợp tác nhà trường – doanh nghiệp”; và “Luật GDNN của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa” được sửa đổi mới năm 2022 đã lần đầu tiên thiết lập bằng hình thức pháp lý quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp với tư cách là chủ thể chính của giáo dục.
Ở cấp độ thực tiễn doanh nghiệp, chúng tôi thúc đẩy các phương pháp “theo nhu cầu”: doanh nghiệp tham gia sâu vào việc xây dựng tiêu chuẩn tuyển sinh, phát triển chương trình giảng dạy, đào tạo thực hành và đánh giá việc làm, đạt được “sự phù hợp giữa nội dung giảng dạy và tiêu chuẩn công việc, và sự đồng bộ giữa thiết bị đào tạo và công nghệ dây chuyền sản xuất”, thực sự giải quyết vấn đề “sự không kết nối giữa học tập và ứng dụng”.
Ưu đãi mạnh tay: Đòn bẩy kéo doanh nghiệp vào giáo dục nghề nghiệp
PV: Tại Trung Quốc, làm thế nào để giải quyết những thách thức trong hợp tác nhà trường – doanh nghiệp thông qua phương pháp kép “sự tham gia chủ động của doanh nghiệp” và “sự hỗ trợ mạnh mẽ của chính phủ”? Các biện pháp cụ thể là gì?
Ông Trương Khải: Mấu chốt nằm ở sự phối hợp của hai phương pháp này. Về phía chính phủ, Trung Quốc đã thiết lập hệ thống chứng nhận cho các doanh nghiệp tích hợp công nghiệp – giáo dục (hơn 2.000 doanh nghiệp đã được chứng nhận trên toàn quốc), cung cấp cho các doanh nghiệp được chứng nhận một loạt các ưu đãi bao gồm “tài chính + thuế + đất đai + tín dụng”, chẳng hạn như giảm thuế 30% cho các khoản phụ phí giáo dục và các khoản phụ phí giáo dục địa phương đối với đầu tư; xây dựng các cơ sở đào tạo tích hợp công nghiệp – giáo dục cấp quốc gia; và việc đưa hiệu quả hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp vào “Kế hoạch Song Cao” (kế hoạch xây dựng các trường đại học chất lượng cao và các nhóm ngành nghề chất lượng cao). Các cơ sở giáo dục có trường đại học chất lượng cao hoặc nhóm ngành nghề chất lượng cao sẽ nhận được nhiều kinh phí đặc biệt hơn cho hoạt động của mình.
Về phía doanh nghiệp, các công ty hàng đầu trong nhiều ngành đang tích hợp phát triển nhân tài vào chiến lược ESG của họ. Ví dụ, các công ty đang hợp tác với các trường dạy nghề trên toàn quốc để xây dựng “các trường đại học công nghiệp – đại học”, nơi các công ty cung cấp thiết bị, khóa học và giảng viên kỹ thuật, đồng thời thiết lập “các chương trình đào tạo chuyên biệt” để bố trí nhân tài chính xác. Cốt lõi là xây dựng một cộng đồng cùng chung lợi ích với đặc điểm “cùng nhau bồi dưỡng nhân tài, cùng nhau quản lý quy trình, cùng nhau đạt được kết quả và cùng nhau chịu trách nhiệm”.
PV: Công ty của bạn đã thực hiện những hành động cụ thể nào?
Ông Trương Khải: Chúng tôi luôn coi GDNN là một phần hữu cơ trong chiến lược toàn cầu hóa và trách nhiệm xã hội của mình, tuân thủ nguyên tắc “công nghiệp đi đến đâu, phát triển nhân tài theo đó”. Tại Đông Nam Á, chúng tôi sử dụng các dự án “Xưởng Chang’an” và “Chinauto” làm phương tiện thực tiễn để thúc đẩy các hành động có hệ thống ở ba cấp độ:
Thứ nhất, sự phối hợp chiến lược. Chúng tôi tích hợp sâu rộng các tiêu chuẩn kỹ thuật của doanh nghiệp và nhu cầu của ngành với hệ thống giáo dục địa phương, giúp các quốc gia Đông Nam Á và Trung Á xây dựng một hệ sinh thái độc lập và bền vững cho nguồn nhân lực lành nghề trong lĩnh vực xe năng lượng mới, đạt được bước nhảy vọt từ “hợp tác dự án” lên “cùng xây dựng hệ sinh thái”.
Thứ hai, mô hình đổi mới. Chúng tôi từ bỏ mô hình đầu ra “cho đi một chiều” và xây dựng cơ chế hợp tác 4 bên gồm “sự chỉ đạo của chính phủ, sự lãnh đạo của trường đại học, sự hỗ trợ của doanh nghiệp và các tiêu chuẩn quốc tế”. Chúng tôi nhấn mạnh vào việc bản địa hóa, cùng nhau phát triển hệ thống chương trình giảng dạy và tiêu chuẩn chứng nhận đáp ứng nhu cầu của ngành trong khu vực, tăng cường năng lực giáo viên và thúc đẩy “sự phối hợp đồng bộ giữa nội dung giảng dạy và công nghệ ngành”, thực sự đạt được mục tiêu “dạy người cách câu cá”.
Thứ ba, nâng cao giá trị. Bằng cách tích hợp sâu sắc việc bồi dưỡng nhân tài vào các hoạt động ESG của doanh nghiệp, chúng tôi thúc đẩy việc làm chất lượng cao cho thanh niên địa phương thông qua việc nâng cao kỹ năng, tăng cường động lực nội sinh của phát triển cộng đồng và thể hiện triết lý hợp tác “cùng tham vấn, cùng xây dựng và cùng hưởng lợi” cũng như trách nhiệm toàn cầu của các doanh nghiệp Trung Quốc.
Tóm lại, cốt lõi trong hành động của chúng tôi là thúc đẩy nguồn cung giáo dục theo nhu cầu của ngành và sử dụng phát triển giáo dục để hỗ trợ nâng cấp công nghiệp, đạt được sự cộng hưởng giữa giá trị doanh nghiệp và giá trị xã hội trong việc phục vụ phát triển kinh tế và xã hội của các nước sở tại.

Từ “hợp tác tạm thời” đến hệ sinh thái cùng phát triển
PV: So với việc thụ động chờ đợi chính sách, các doanh nghiệp lớn của Trung Quốc có thể chủ động xây dựng cơ chế hợp tác với các trường đại học như thế nào?
Ông Trương Khải: Các doanh nghiệp lớn của Trung Quốc đã nâng tầm hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp từ “phản ứng theo chính sách” lên “nhận thức chiến lược”. Cốt lõi nằm ở việc tự khẳng định mình là những người dẫn đầu ngành trong hệ sinh thái giáo dục, xây dựng một mô hình hợp tác giáo dục mới bền vững và có thể nhân rộng.
Thứ nhất, cơ chế được xây dựng dài hạn. Các doanh nghiệp và trường đại học thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, cùng nhau xây dựng và quản lý các nền tảng hợp tác, tích hợp việc đào tạo nhân tài vào kế hoạch phát triển trung và dài hạn, và kết nối năng động giữa sự phát triển của ngành và nhu cầu nhân tài thông qua các cơ chế tham vấn thường xuyên, đạt được sự chuyển đổi từ “hợp tác tạm thời” sang “cùng chung vận mệnh”.
Thứ hai, các tiêu chuẩn được tích hợp. Các doanh nghiệp chủ động thúc đẩy sự tích hợp hữu cơ các tiêu chuẩn kỹ thuật ngành, quy chuẩn quy trình và hệ thống giảng dạy, chuyển đổi các kịch bản sản xuất thực tế và logic lặp lại công nghệ thành tài nguyên giảng dạy và mô hình năng lực. Điều này đảm bảo quá trình đào tạo nhân tài phù hợp với tốc độ nâng cấp công nghiệp, giải quyết mâu thuẫn cấu trúc “giảng dạy tụt hậu so với ngành”.
Thứ ba, hệ sinh thái mang tính hợp tác. Các doanh nghiệp đi đầu trong việc liên kết các hiệp hội ngành và các đối tác thượng nguồn và hạ nguồn trong chuỗi công nghiệp để cùng nhau xây dựng cộng đồng tích hợp công nghiệp – giáo dục, tích hợp các nguồn lực đào tạo thực tiễn, chia sẻ nền tảng công nghệ và chia sẻ trách nhiệm bồi dưỡng nhân tài. Thông qua việc tập trung nguồn lực và đa dạng hóa rủi ro, áp lực đầu tư đối với từng doanh nghiệp được giảm bớt, và hình thành một vòng tuần hoàn tích cực “giáo dục dẫn đầu ngành và giáo dục hỗ trợ ngành”.
Tóm lại, thực tiễn của các doanh nghiệp Trung Quốc cho thấy động lực sâu sắc thúc đẩy sự hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp xuất phát từ sự đồng thuận chiến lược rằng “nhân tài là nguồn lực chính”. Khi các doanh nghiệp coi việc phát triển nhân tài là nhu cầu nội tại cho sự phát triển của chính họ chứ không phải là gánh nặng bên ngoài, sự hợp tác có thể chuyển từ “sự chồng chất vật chất” sang “sự tích hợp hóa học”, thực sự tạo động lực bền vững cho sự phát triển chất lượng cao.
Thứ ba, mô hnh này bồi dưỡng nhân văn, tích hợp giao tiếp đa văn hóa và đạo đức nghề nghiệp vào toàn bộ quá trình đào tạo, giúp nhân lực có tay nghề không chỉ xuất sắc trong các vị trí kỹ thuật mà còn hòa nhập tốt vào hệ sinh thái làm việc quốc tế.
Mô hình này đã trở thành một ví dụ bởi vì nó giải quyết được câu hỏi cốt lõi về sự hội nhập giữa ngành công nghiệp và giáo dục bằng hành động thực tiễn: bắt đầu từ nhu cầu thực tế của ngành công nghiệp và được đảm bảo bởi một cơ chế hợp tác bền vững, nó thực sự biến giáo dục nghề nghiệp thành một mắt xích vững chắc phục vụ phát triển khu vực và thúc đẩy kết nối nhân dân.
PV: Vai trò “hỗ trợ” của chính phủ được thể hiện cụ thể trong những thiết kế thể chế và đầu tư nguồn lực nào?
Ông Trương Khải: Vai trò hỗ trợ của chính phủ được thể hiện một cách có hệ thống trong cách tiếp cận ba hướng “hướng dẫn pháp luật, đổi mới cơ chế và đảm bảo nguồn lực”: Ở cấp độ thiết kế thể chế, Luật GDNN của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thực thi năm 2022, lần đầu tiên quy định rõ ràng bằng văn bản pháp luật rằng các doanh nghiệp hội nhập ngành công nghiệp – giáo dục có thể được hưởng các khoản giảm thuế và phí như miễn phụ phí giáo dục, và thiết lập vị thế của doanh nghiệp là chủ thể chính trong hoạt động giáo dục;
Thiết lập hệ thống chứng nhận và đào tạo ba cấp quốc gia, tỉnh và thành phố cho các doanh nghiệp tích hợp công nghiệp – giáo dục; thực hiện chính sách khuyến khích tổng hợp “tài chính + ngân sách + đất đai + tín dụng”; và đưa hiệu quả hợp tác nhà trường – doanh nghiệp vào đánh giá phát triển chất lượng cao khu vực.
Thực hiện các nhiệm vụ trọng điểm của “Cải cách xây dựng hệ thống GDNN hiện đại”, và thúc đẩy thể chế hóa việc tích hợp GDNN và giáo dục phổ thông, tích hợp công nghiệp – giáo dục, và tích hợp khoa học – giáo dục.
Về đầu tư nguồn lực, chính phủ trung ương điều phối các quỹ liên quan đến GDNN, với tổng vốn đầu tư hàng năm vượt quá 30 tỷ nhân dân tệ; chính quyền địa phương hợp tác xây dựng các khu công nghiệp – giáo dục và các cơ sở đào tạo công cộng, hình thành mô hình “chỉ đạo trung ương, trách nhiệm địa phương, đầu tư đa dạng”.
Bài học cho Việt Nam: Cụ thể hóa chính sách, chọn ngành mũi nhọn để thí điểm
PV: Chính phủ Việt Nam đã đề xuất các chính sách ưu đãi cho sự tham gia của doanh nghiệp trong GDNN, ý kiến của ông/bà về vấn đề này như thế nào?
Ông Trương Khải: Hướng chính sách của Việt Nam là đúng đắn, nhưng cần tập trung vào ba điểm để nâng cao hiệu quả.
Thứ nhất, cần cụ thể hóa các chi tiết bằng cách làm rõ tỷ lệ giảm thuế và miễn thuế cho các doanh nghiệp liên quan và đơn giản hóa quy trình đăng ký để tránh khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình xin cấp phép.
Thứ hai, cần thúc đẩy sự phối hợp bằng cách thiết lập cơ chế làm việc giữa Bộ Nội vụ và Bộ Giáo dục và Đào tạo để kết nối nhu cầu việc làm với đào tạo nghề, giải quyết các vấn đề quản lý rời rạc và tiêu chuẩn không nhất quán.
Thứ ba, cần xây dựng các dự án thí điểm bằng cách tập trung vào các ngành có lợi thế như sản xuất điện tử và logistics, tạo ra 3-5 dự án mẫu để tăng cường niềm tin kinh doanh. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy những đột phá trong thực thi chính sách ở “chặng cuối” thường bắt đầu bằng những câu chuyện thành công nhỏ, hữu hình.
Giáo dục nghề nghiệp phải đi cùng thị trường lao động
PV: Dựa trên những quan sát thực tiễn của bạn tại Việt Nam, ông có những đề xuất cụ thể nào cho sự phát triển của GDNN tại Việt Nam?
Ông Trương Khải: Dựa trên kinh nghiệm của Trung Quốc và thực tiễn Việt Nam, tôi xin đề xuất như sau:
Đối với các trường dạy nghề, chúng ta có thể tối ưu hóa năng động các chuyên ngành, bám sát nhu cầu nâng cấp của ngành công nghiệp chế tạo Việt Nam, và bổ sung các hướng như đóng gói bán dẫn và công nghệ năng lượng mới; tăng cường đội ngũ giảng viên “kiêm nhiệm”, cử giáo viên đến doanh nghiệp thực tập, và mời các chuyên gia kỹ thuật của doanh nghiệp tham gia giảng dạy bán thời gian; thúc đẩy chứng nhận quốc tế: tích cực phối hợp với tiêu chuẩn IHK của Đức, tiêu chuẩn “1+X” của Trung Quốc, v.v., để nâng cao giá trị quốc tế của bằng cấp học thuật.
Đối với doanh nghiệp, chúng ta nên đưa việc đào tạo nhân tài vào chiến lược, lập ngân sách đào tạo chuyên biệt và tham gia chứng nhận “doanh nghiệp tích hợp giáo dục – công nghiệp”; các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên “hợp tác theo nhóm”, cùng nhau xây dựng và chia sẻ các cơ sở đào tạo thông qua các hiệp hội ngành nghề để giảm chi phí riêng lẻ; Tận dụng tối đa lợi ích từ chính sách, chủ động kết nối với các dự án thí điểm của chính phủ và nỗ lực tìm kiếm sự hỗ trợ về chính sách như viện trợ thiết bị và ưu đãi thuế.
Đối với chính phủ, điều này bao gồm việc thiết kế ở cấp cao để phá bỏ các rào cản, thúc đẩy sự hợp tác hiệu quả giữa hai bộ, và thiết lập “Cơ chế Hội nghị chung về Phát triển GDNN”. Các chính sách khuyến khích đang được cụ thể hóa hơn, cung cấp hỗ trợ thiết thực như giảm thuế thu nhập và ưu tiên phân bổ đất đai cho các doanh nghiệp có hợp tác sâu rộng. Một bầu không khí xã hội đang được vun đắp bằng việc tổ chức “Cuộc thi Kỹ năng Quốc gia”, công khai thành tích của các nghệ nhân bậc thầy, và thúc đẩy “coi trọng kỹ năng” như một xu hướng xã hội mới.
Bản chất của GDNN là giáo dục hướng đến việc làm theo định hướng thị trường. Trung Quốc và Việt Nam có sự bổ sung mạnh mẽ về công nghiệp. Việc tăng cường hợp tác GDNN không chỉ có thể đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật và tay nghề cao đang rất cần thiết cho Việt Nam mà còn giúp các doanh nghiệp Trung Quốc nội địa hóa phát triển sản phẩm. Chúng tôi mong muốn hai nước cùng nhau xây dựng một tương lai mới cho xã hội dựa trên kỹ năng, giúp mỗi người trẻ có thể đạt được cuộc sống tươi sáng thông qua kỹ năng của mình.
Xin cảm ơn ông!
Trang Lê (thực hiện)
Hotline: 
Bình luận đã đóng.