Trong nhiều năm, quan niệm “phải học đại học mới thành công” đã trở thành suy nghĩ phổ biến của nhiều gia đình. Tính phổ biến ăn sâu tới mức đặt việc vào đại học là tiêu chí của thành công. Tuy nhiên, thực tiễn tại các quốc gia có nền kinh tế phát triển cho thấy, điều quyết định thành công không phải là bằng đại học, mà là năng lực nghề nghiệp và kỹ năng đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.

Giáo dục nghề nghiệp – Nền tảng của các nền kinh tế phát triển
Hầu hết các quốc gia có nền công nghiệp tiên tiến đều xây dựng hệ thống giáo dục nghề nghiệp rất mạnh.
Thụy Sĩ được xem là hình mẫu của thế giới về đào tạo nghề. Theo thống kê cho thấy, khoảng 2/3 học sinh sau bậc trung học cơ sở lựa chọn học nghề, phần lớn theo mô hình đào tạo kép (Dual System), vừa học tại trường vừa làm việc hưởng lương tại doanh nghiệp. Sau khi tốt nghiệp, tỷ lệ có việc làm của người học nghề đạt xấp xỉ 90%, thuộc nhóm cao nhất trong các nước Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD).
Tại Đức, hệ thống đào tạo nghề kép là “xương sống” của nền kinh tế. Khoảng trên 1/3 học sinh trong độ tuổi 15–19 tuổi theo học giáo dục nghề nghiệp và được đào tạo trong hơn 320 nghề khác nhau. Doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo nên sinh viên tốt nghiệp có thể làm việc ngay mà không phải đào tạo lại.
Tại Trung Quốc, một trong những nền kinh tế sản xuất lớn nhất thế giới, giáo dục nghề nghiệp được đặc biệt coi trọng. Theo OECD, ở bậc trung học phổ thông, khoảng một nửa số học sinh lựa chọn học nghề, Theo Niên giám Thống kê Giáo dục quốc gia Trung Quốc năm 2025, tổng số học sinh, sinh viên học nghề của trung Quốc là 30,35 triệu người, gồm 12,29 triệu học sinh trung cấp nghề và 18,05 triệu sinh viên cao đẳng, đại học nghề. Chính phủ Trung Quốc liên tục đầu tư mạnh cho hệ thống trường nghề nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực trong các ngành chế tạo, điện tử, bán dẫn, robot, trí tuệ nhân tạo, logistics và dịch vụ hiện đại.
Nhìn trên phạm vi toàn OECD, khoảng 37% học sinh trung học phổ thông theo học chương trình nghề, và ở nhiều quốc gia châu Âu, tỷ lệ này đạt 60–70%. Giáo dục nghề nghiệp không còn là lựa chọn dành cho học sinh học lực yếu mà là một con đường đào tạo nhân lực chất lượng cao.

Học nghề giúp có việc làm sớm và ổn định
Theo OECD, thanh niên từ 25–34 tuổi có bằng nghề đạt tỷ lệ có việc làm trung bình 83%, cao hơn đáng kể so với nhóm chỉ học chương trình phổ thông (73%). Đặc biệt, khoảng 75% người học nghề đã có việc làm ngay sau khi hoàn thành chương trình, trong khi tỷ lệ tiếp tục học lên không cao vì phần lớn đã gia nhập thị trường lao động và có mức thu nhập cũng như cuộc sống tốt.
Thực tiễn tại nhiều quốc gia cho thấy, người học nghề có cơ hội việc làm rất cao. Tại Đức, gần 90% người có trình độ giáo dục nghề nghiệp có việc làm. Tại Trung Quốc, nhiều trường cao đẳng nghề đạt tỷ lệ việc làm trên 90%. Tại Việt Nam, tỷ lệ người học nghề có việc làm đạt khoảng 80–90%, nhiều ngành kỹ thuật và công nghệ đạt trên 95%. Từ năm 2026, theo Luật GDNN mô hình trung học nghề được triển khai với đối tượng sau khi tốt nghiệp THCS giúp người học 18 tuổi đã có một nghề nghiệp và có thể gia nhập thị trường lao động thay vì 20-21 tuổi như trước đây. Điều này khẳng định rằng giáo dục nghề nghiệp không chỉ giúp người học có việc làm sớm mà còn đáp ứng trực tiếp nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp và nền kinh tế.
Điểm khác biệt lớn nhất của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp. Người học được thực hành từ 50–70% thời lượng khóa học, tham gia thực tập tại doanh nghiệp và tích lũy kinh nghiệm trước khi tốt nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp có thể tuyển dụng ngay mà không mất nhiều chi phí đào tạo lại.

Thu nhập của người học nghề không hề thấp
Một ưu điểm nổi bật của giáo dục nghề nghiệp là người học có cơ hội vừa học vừa làm và được hưởng thu nhập ngay trong quá trình đào tạo. Tại Đức và Thụy Sĩ, học viên nghề theo mô hình đào tạo kép thường được doanh nghiệp trả lương ngay trong thời gian học. Mức hỗ trợ tùy ngành nghề nhưng đủ để trang trải phần lớn chi phí sinh hoạt. Tại Trung Quốc, doanh nghiệp trả phụ cấp hoặc tiền lương trong thời gian thực tập theo mô hình hợp tác trường – doanh nghiệp. Ở Việt Nam, pháp luật cũng quy định người học nghề khi trực tiếp tham gia lao động, sản xuất tại doanh nghiệp phải được trả lương theo thỏa thuận. Điều này giúp người học tích lũy kinh nghiệm, giảm gánh nặng tài chính và có nhiều cơ hội được tuyển dụng ngay khi ra trường.
Sau khi tốt nghiệp, thu nhập của lao động kỹ thuật lành nghề trong các lĩnh vực như cơ khí chính xác, điện – điện tử, tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ ô tô, logistics hay khách sạn thường không thua kém nhiều so với người tốt nghiệp đại học trong giai đoạn đầu sự nghiệp. Khi tích lũy kinh nghiệm, có chứng chỉ nghề bậc cao hoặc trở thành quản lý kỹ thuật, mức thu nhập tiếp tục tăng đáng kể.
Tại Việt Nam, nhiều doanh nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất điện tử, bán dẫn, công nghệ ô tô, logistics, khách sạn và công nghệ thông tin hiện tuyển dụng kỹ thuật viên tốt nghiệp cao đẳng với mức lương khởi điểm phổ biến khoảng 10–15 triệu đồng/tháng; những vị trí làm việc trong doanh nghiệp FDI, có ngoại ngữ hoặc tay nghề tốt có thể đạt 15–25 triệu đồng/tháng, thậm chí cao hơn sau vài năm kinh nghiệm. Nhiều ngành nghề khan hiếm lao động và các trường đào tạo cũng không đủ để cung cấp cho thị trường lao động như khối cơ khí chính xác, Hàn công nghệ cao…

Đại học không phải là con đường duy nhất
Đại học phù hợp với những ngành nghề đòi hỏi nghiên cứu chuyên sâu như y khoa, luật, kiến trúc hoặc khoa học cơ bản…. Tuy nhiên, với rất nhiều lĩnh vực như công nghệ thông tin, bán dẫn, điện – điện tử, cơ khí, truyền thông đa phương tiện, logistics, du lịch, nhà hàng – khách sạn hay ngoại ngữ ứng dụng, điều doanh nghiệp cần nhất là kỹ năng thực hành và khả năng làm việc.
Người học nghề có nhiều lợi thế về thời gian đào tạo ngắn (2–3 năm), chi phí học tập thấp hơn, được thực hành nhiều và tiếp xúc doanh nghiệp từ sớm, có việc làm sớm, ra nhập thị trường lao động sớm, tạo thu nhập từ khi còn trẻ và vẫn có thể học liên thông lên đại học khi có nhu cầu phát triển sự nghiệp.
Nhìn vào thành công của các quốc gia như Thụy Sĩ, Đức, Trung Quốc và nhiều quốc gia phát triển khác có thể thấy một điểm chung: không quốc gia công nghiệp nào phát triển mà thiếu một hệ thống giáo dục nghề nghiệp mạnh.
Trong bối cảnh Việt Nam đang phát triển mạnh các ngành công nghệ, kỹ thuật cao như bán dẫn, AI, sản xuất thông minh, kinh tế số và dịch vụ chất lượng cao, nhu cầu về lao động kỹ thuật sẽ còn tăng nhanh trong nhiều năm tới. Vì vậy, chọn học nghề không phải là lựa chọn thứ hai sau đại học, mà là lựa chọn phù hợp cho những người muốn có nghề nghiệp vững chắc, việc làm ổn định, thu nhập tốt và cơ hội phát triển lâu dài.
TS. Nguyễn Xuân Sang
Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Ngoại ngữ- Công nghệ và Truyền thông
Hotline: 
Bình luận đã đóng.