Điều chỉnh tuổi hưởng trợ cấp hưu trí: Cân bằng giữa an sinh và nguồn lực ngân sách

Việc Bộ Nội vụ đề xuất hai phương án điều chỉnh độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội đang thu hút sự quan tâm của dư luận bởi đây không chỉ là thay đổi về một chính sách an sinh, mà còn là bước đi hướng tới mục tiêu mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội và bảo đảm thu nhập cho người cao tuổi không có lương hưu.

Theo dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội, cơ quan soạn thảo đưa ra hai phương án. Phương án thứ nhất giữ nguyên quy định hiện hành: người từ đủ 75 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội; người từ đủ 70 đến dưới 75 tuổi chỉ được hưởng nếu thuộc hộ nghèo hoặc cận nghèo. Phương án thứ hai cho phép Chính phủ quyết định lộ trình giảm dần độ tuổi hưởng trợ cấp xuống còn 70 tuổi, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và khả năng cân đối ngân sách; nếu có đủ điều kiện, Chính phủ sẽ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét tiếp tục giảm xuống dưới 70 tuổi.

Điểm đáng chú ý của phương án thứ hai là tạo cơ chế linh hoạt thay vì quy định cứng trong luật. Điều này giúp Chính phủ có thể chủ động mở rộng chính sách khi điều kiện kinh tế và ngân sách cho phép, đồng thời vẫn bảo đảm tính bền vững của hệ thống an sinh xã hội.

Thực tế cho thấy, sau khi độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội được giảm từ 80 xuống 75 tuổi theo quy định hiện hành, số người cao tuổi được hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc trợ cấp hưu trí xã hội đã tăng thêm khoảng 500.000 người. Tuy vậy, tỷ lệ bao phủ mới đạt gần 42% số người sau tuổi nghỉ hưu, còn khá xa mục tiêu khoảng 60% vào năm 2030 theo Nghị quyết số 28-NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.

Ở góc độ an sinh, việc giảm độ tuổi hưởng trợ cấp sẽ giúp nhiều người cao tuổi không có lương hưu, đặc biệt là lao động khu vực phi chính thức, có thêm nguồn hỗ trợ để trang trải cuộc sống. Đây là nhóm lao động từng làm việc nhiều năm nhưng không tham gia hoặc không đủ điều kiện hưởng bảo hiểm xã hội, trong khi nhu cầu chi tiêu cho y tế và chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng khi tuổi cao.

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cũng cho rằng việc mở rộng đối tượng thụ hưởng cần đi cùng với tính toán kỹ về nguồn lực tài chính. Trợ cấp hưu trí xã hội là chính sách do ngân sách nhà nước bảo đảm, vì vậy việc giảm độ tuổi càng nhanh thì số người thụ hưởng càng lớn, kéo theo áp lực chi ngân sách. Chính vì vậy, phương án giao Chính phủ chủ động điều chỉnh theo từng giai đoạn được đánh giá là phù hợp, vừa mở rộng an sinh vừa bảo đảm khả năng cân đối tài chính.

Một khía cạnh khác cũng cần được lưu ý là mối quan hệ giữa trợ cấp hưu trí xã hội và bảo hiểm xã hội tự nguyện. Nếu mức hỗ trợ xã hội quá cao hoặc điều kiện hưởng quá dễ, có thể làm giảm động lực tham gia bảo hiểm xã hội của một bộ phận người lao động. Do đó, việc thiết kế chính sách cần bảo đảm trợ cấp hưu trí xã hội là “tấm lưới an sinh” dành cho những người không còn khả năng tham gia bảo hiểm xã hội, trong khi lương hưu từ bảo hiểm xã hội vẫn phải là mục tiêu ưu tiên để người lao động hướng tới trong suốt quá trình làm việc.

Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số, mở rộng diện bao phủ an sinh cho người cao tuổi là xu hướng tất yếu. Tuy nhiên, cùng với việc điều chỉnh chính sách trợ cấp hưu trí xã hội, cần tiếp tục phát triển bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện, mở rộng cơ hội việc làm chính thức và nâng cao nhận thức của người lao động về tích lũy an sinh từ sớm. Chỉ khi các tầng an sinh được vận hành đồng bộ, hệ thống bảo hiểm xã hội mới thực sự trở thành điểm tựa bền vững cho người dân trong suốt vòng đời lao động và sau khi nghỉ hưu.

Bảo Minh