Thu nhập bấp bênh, đóng BHXH bắt buộc thế nào? Bài toán an sinh của lao động nền tảng số

Mở rộng bảo hiểm xã hội bắt buộc tới lao động nền tảng số là hướng đi nhằm thu hẹp khoảng trống an sinh trong nền kinh tế số. Nhưng khi thu nhập thay đổi theo từng chuyến xe, đơn hàng hoặc thời điểm làm việc, chính sách cần giải quyết đồng thời ba vấn đề: xác định đúng đối tượng, tính đúng căn cứ đóng và phân định trách nhiệm giữa người lao động với doanh nghiệp nền tảng.

Muốn lao động nền tảng số có điểm tựa an sinh, chính sách phải bắt đầu từ thực tế thu nhập và cách thức làm việc của họ.

Khi thu nhập không cố định theo tháng

Một tài xế công nghệ có thể kiếm được nhiều tiền trong những ngày nhu cầu đi lại tăng cao, nhưng thu nhập giảm đáng kể khi ít khách, xe hỏng hoặc bản thân phải nghỉ làm. Người giao hàng cũng có thể nhận nhiều đơn vào giờ cao điểm, song phải tự chi trả xăng xe, bảo dưỡng phương tiện và các chi phí phục vụ công việc.

Đặc điểm này khiến lao động nền tảng số khác với nhóm người làm việc theo hợp đồng có mức lương tương đối ổn định. Với nhiều người, thu nhập thực tế phụ thuộc vào thời gian hoạt động, số đơn hàng, mức chiết khấu, chính sách thưởng của ứng dụng và các khoản chi phí phát sinh.

Trong bối cảnh đó, đề xuất mở rộng diện tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc đối với người làm việc không có quan hệ lao động và người làm việc trên nền tảng số đang được Quốc hội xem xét trong quá trình sửa đổi Luật BHXH.

Theo dự thảo được Chính phủ trình Quốc hội ngày 21/10/2026, căn cứ điều kiện phát triển kinh tế – xã hội từng thời kỳ, Chính phủ sẽ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định việc tham gia BHXH bắt buộc đối với các nhóm này và những đối tượng khác có việc làm, thu nhập ổn định, thường xuyên. Dự thảo chưa xác định cụ thể những ai trong nhóm lao động nền tảng phải tham gia và thời điểm áp dụng.

Chủ trương mở rộng độ bao phủ an sinh nhận được sự đồng tình về mục tiêu, nhưng cách thức thực hiện vẫn là vấn đề cần làm rõ. Bởi nếu quy định nghĩa vụ đóng khi chưa xác định được mức thu nhập làm căn cứ, chủ thể chịu trách nhiệm và phương thức thu nộp, chính sách có thể gặp khó khăn ngay từ khâu triển khai.

Đóng trên doanh thu hay thu nhập thực nhận?

Đây là câu hỏi quan trọng đối với nhóm lao động có thu nhập biến động.

Giả sử một tài xế nhận được 15 triệu đồng từ hoạt động trên nền tảng trong một tháng. Con số này chưa chắc là khoản tiền người lao động thực sự có thể sử dụng. Sau khi trừ chi phí nhiên liệu, bảo dưỡng, khấu hao phương tiện và những khoản phục vụ công việc, số tiền còn lại có thể thấp hơn đáng kể.

Nếu căn cứ đóng BHXH được xác định mà không tính đến đặc điểm này, người lao động có thể phải thực hiện nghĩa vụ dựa trên khoản doanh thu chưa phản ánh đầy đủ khả năng tài chính của mình.

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào khoản thu nhập do người lao động tự kê khai, việc xác định nghĩa vụ cũng có thể gặp khó khăn, nhất là khi một người làm việc trên nhiều nền tảng hoặc có thêm nguồn thu nhập khác.

Vì vậy, chính sách cần phân biệt rõ doanh thu phát sinh từ hoạt động trên nền tảng, các khoản chi phí hợp lý và thu nhập được lựa chọn làm căn cứ đóng theo quy định pháp luật. Cùng với đó là phương pháp xác định, đối soát dữ liệu và xử lý những tháng người lao động có thu nhập thấp hoặc không phát sinh thu nhập.

Tại phiên thảo luận ngày 21/10, đại biểu Nguyễn Hữu Toàn, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, lưu ý rằng đặc điểm linh hoạt về thời gian, địa điểm và thu nhập khiến việc quản lý, xác định căn cứ đóng đối với nhóm lao động này gặp nhiều khó khăn. Đại biểu cho rằng cần làm rõ mức thu nhập làm căn cứ đóng trước khi triển khai chính sách bắt buộc.

Về lâu dài, nếu không có phương pháp xác định thu nhập minh bạch và dễ thực hiện, cả người lao động lẫn cơ quan quản lý đều khó dự tính chính xác nghĩa vụ. Đây cũng là nguyên nhân có thể dẫn đến tranh chấp về số tiền phải đóng hoặc cách xác định đối tượng thuộc diện bắt buộc.

Ai sẽ chia sẻ khoản đóng bảo hiểm?

Với người lao động làm việc theo hợp đồng, pháp luật đã xác định trách nhiệm đóng BHXH của người lao động và người sử dụng lao động theo từng trường hợp. Nhưng với lao động nền tảng, quan hệ giữa người cung cấp dịch vụ và đơn vị vận hành ứng dụng có thể được tổ chức theo nhiều cách khác nhau.

Nếu người lao động phải tự đóng toàn bộ khoản bắt buộc, gánh nặng tài chính có thể tăng lên, nhất là với người có thu nhập thấp, không ổn định hoặc đang phải tự trang trải chi phí phương tiện làm việc.

Ngược lại, nếu yêu cầu doanh nghiệp nền tảng cùng đóng hoặc thực hiện khấu trừ, nộp thay, quy định cần xác định rõ trách nhiệm và cách thức thực hiện. Không thể chỉ đặt ra nghĩa vụ chung mà thiếu cơ chế để xác định doanh nghiệp nào có trách nhiệm, căn cứ tính đóng ra sao và xử lý thế nào khi người lao động sử dụng nhiều ứng dụng.

Đại biểu Bùi Thị Quỳnh Thơ (Hà Tĩnh) đề nghị làm rõ chủ thể có trách nhiệm đóng, phương thức đóng và tiêu chí xác định người làm việc có thu nhập ổn định, thường xuyên. Đại biểu cũng lưu ý rằng việc mở rộng diện bắt buộc có thể tác động đến thu nhập của người lao động, đặc biệt là nhóm có thu nhập thấp hoặc chưa ổn định.

Một phương án cần được nghiên cứu là xây dựng cơ chế chia sẻ trách nhiệm phù hợp với tính chất quan hệ giữa các bên, thay vì mặc nhiên coi mọi lao động nền tảng đều có cùng một mô hình sử dụng lao động.

Bên cạnh đó, cần có quy định rõ về dữ liệu giao dịch và trách nhiệm cung cấp thông tin của nền tảng. Dữ liệu có thể giúp xác định mức thu nhập, nhưng việc khai thác phải có căn cứ pháp lý, bảo đảm quyền riêng tư và không tạo ra thủ tục phức tạp cho người lao động.

Bắt buộc tham gia nhưng phải có khả năng duy trì

Mục tiêu của BHXH là bảo vệ người tham gia trước những rủi ro trong cuộc sống và tạo nền tảng thu nhập khi về già. Tuy nhiên, một chính sách chỉ đạt hiệu quả khi người lao động không chỉ tham gia được mà còn có khả năng duy trì đóng góp trong thời gian dài.

Với người có thu nhập ổn định, nghĩa vụ đóng định kỳ có thể dễ dự tính. Nhưng với tài xế công nghệ hoặc người giao hàng, thu nhập có thể biến động theo mùa, theo ngày hoặc theo sức khỏe và điều kiện cá nhân. Nếu mức đóng không tương thích với khả năng chi trả, họ có thể gặp khó khăn trong việc thực hiện nghĩa vụ.

Một vấn đề khác là khi chính sách chuyển từ tự nguyện sang bắt buộc đối với một nhóm đối tượng, người thuộc diện áp dụng phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định. Nếu tiêu chí nhận diện chưa rõ hoặc cơ chế đóng chưa phù hợp với thu nhập thực tế, nguy cơ phát sinh vướng mắc trong tuân thủ sẽ tăng lên.

Đại biểu Nguyễn Hữu Toàn lưu ý rằng chính sách hướng tới bảo vệ người lao động nhưng nếu yêu cầu bắt buộc được triển khai trong khi nhiều điều kiện thực hiện chưa rõ, người lao động có thể rơi vào tình thế khó đáp ứng nghĩa vụ. Đại biểu gợi ý nghiên cứu phương án Nhà nước hỗ trợ thêm để người lao động tham gia BHXH tự nguyện, thay vì vội vàng mở rộng diện bắt buộc khi chưa đủ điều kiện tổ chức thực hiện.

Các phương án này cần được đánh giá trên cơ sở quyền lợi được hưởng, khả năng duy trì đóng góp và tác động ngân sách. Điều quan trọng là không để người lao động phải lựa chọn giữa việc trang trải chi phí sinh hoạt trước mắt và thực hiện nghĩa vụ an sinh dài hạn.

Cần lộ trình và dữ liệu đủ tin cậy

Một trong những đề xuất được nêu tại Quốc hội là không áp dụng chính sách mới sớm hơn năm 2028, nhằm có thêm thời gian hoàn thiện pháp luật về lao động, việc làm và xây dựng hệ thống dữ liệu liên thông giữa cơ quan BHXH, cơ quan thuế với các nền tảng số. Đây là kiến nghị của đại biểu, chưa phải mốc triển khai chính thức.

Khoảng thời gian chuẩn bị có ý nghĩa quan trọng, bởi chính sách không chỉ liên quan đến mức đóng mà còn đòi hỏi hệ thống quản lý có khả năng xác định đúng người tham gia, ghi nhận dữ liệu đóng góp và giải quyết quyền lợi khi phát sinh.

Trước khi triển khai, cần xác định rõ các nhóm đối tượng theo đặc điểm công việc và mức độ phụ thuộc vào nguồn thu từ nền tảng. Tiếp đó là quy định nguyên tắc xác định thu nhập, trách nhiệm đóng góp, cơ chế đối soát và cách xử lý trường hợp người lao động hoạt động trên nhiều ứng dụng.

Việc tham vấn người lao động cũng cần được thực hiện thực chất. Tài xế, người giao hàng và các nhóm lao động nền tảng cần được cung cấp thông tin dễ hiểu về nghĩa vụ dự kiến, quyền lợi, phương thức đóng và những tình huống có thể phát sinh. Ý kiến từ chính những người chịu tác động sẽ giúp cơ quan xây dựng chính sách đánh giá sát hơn khả năng tuân thủ.

Cùng với đó, Nhà nước có thể nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện cho nhóm lao động phù hợp, trong khi xây dựng lộ trình mở rộng diện bắt buộc dựa trên tiêu chí rõ ràng. Cách tiếp cận này cần được đánh giá tổng thể để tránh tạo ra khoảng cách quyền lợi không hợp lý giữa những nhóm lao động có hoàn cảnh tương đồng.

Đích đến là an sinh bền vững, không phải chỉ tăng số người đóng

Nền kinh tế số đang tạo ra nhiều cơ hội việc làm linh hoạt, nhưng sự linh hoạt về cách thức làm việc không làm mất đi nhu cầu được bảo vệ trước rủi ro. Người lao động nền tảng vẫn có thể bị gián đoạn thu nhập vì bệnh tật, tai nạn hoặc tuổi tác, trong khi khả năng tự tích lũy cho tương lai có giới hạn.

Do đó, mở rộng độ bao phủ BHXH là vấn đề cần được xem xét nghiêm túc. Song chính sách cũng phải tính đến sự khác biệt giữa lao động có quan hệ hợp đồng ổn định và lao động có thu nhập biến động, tránh áp dụng cơ học một mô hình cho tất cả.

Thành công không chỉ được đo bằng số người được đưa vào diện bắt buộc. Cần quan tâm đến khả năng duy trì đóng góp, tính minh bạch của căn cứ đóng, mức độ tuân thủ của các bên và khả năng bảo đảm quyền lợi trong dài hạn.

Muốn lao động nền tảng số có điểm tựa an sinh, chính sách phải bắt đầu từ thực tế thu nhập và cách thức làm việc của họ. Khi trách nhiệm được phân định rõ, mức đóng có căn cứ hợp lý và lộ trình đủ khả thi, mục tiêu mở rộng BHXH mới có thể song hành với việc bảo vệ sinh kế của người lao động.

Mnh Hải

Bình luận đã đóng.