Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục số 123/2025/QH15 và Luật Giáo dục nghề nghiệp số 124/2025/QH15, được Quốc hội khóa XV thông qua, đánh giá một bước đổi mới mang tính đột phá với quy định mô hình Trung học nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Đây là sự cụ thể hóa đường lối chủ trương của Đảng về giáo dục nghề nghiệp (GDNN), trực tiếp là Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo và Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 04/5/2023 của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao chất lượng GDNN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Với mục tiêu “đến năm 2030 ít nhất 85% người trong độ tuổi hoàn thành cấp trung học phổ thông và tương đương”, “thu hút 50-55% học sinh trung học vào hệ thông GDNN; “thực hiện tốt việc phân luồng, tăng tỷ lệ học sinh sau trung học cơ sở vào GDNN; thực hiện vừa đào tạo nghề vừa dạy văn hóa tại các cơ sở GDNN…”.
Sự hình thành mô hình Trung học nghề không phải một quyết định hành chính đơn thuần, mà là kết quả của một quá trình tổng kết thực tiễn, và nhu cầu giải quyết những điểm nghẽn của hệ thống giáo dục quốc dân; kinh nghiệm đào tạo hệ 9+ trong thực tế và khắc phục những hạn chế, “phân mảnh, lắp ghép” trong tổ chức đào tạo nghề và đào tạo văn hóa.
Bên cạnh đó, mô hình Trung học nghề hoàn toàn đồng pha với xu hướng phát triển GDNN toàn cầu, hòa nhịp dòng chảy chung của kinh tế tri thức và kỹ năng do Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đề xướng. Các trụ cột ưu tiên của UNESCO nhấn mạnh vào việc trang bị kỹ năng cho thanh thiếu niên để chống lại rủi ro thất nghiệp, tạo cơ hội học tập suốt đời cho nhóm thanh niên không được giáo dục hoặc không có việc làm, và thúc đẩy công bằng giáo dục. Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) cũng đã dịch chuyển tiêu chí đánh đánh giá năng lực cạnh tranh từ “giáo dục đại học” sang “kỹ năng”, xem kỹ năng như một loại tiền tệ toàn cầu mới.
Thực tiễn quốc tế cho thấy, việc phân luồng và tổ chức đào tạo nghề chuyên sâu cho lứa tuổi 15 là một xu thế: Mô hình KOSEN (Nhật Bản) tiếp nhận học sinh 15 tuổi đào tạo kỹ sư thực hành đào tạo liên tục 5 năm cấp bằng Cao đẳng; Mô hình Cao đẳng 5 năm xuyên suốt (Trung Quốc, Đài Loan); Hệ thống đào tạo kép (Cộng hòa Liên bang Đức) và Nghề ban đầu IVET (Phần Lan); Mô hình Trung học Kỹ thuật của KOREA (KOREA Technical& vocational Highschool). Nhìn chung các mô hình này tiếp nhận học sinh 15 tuổi tương đương lớp 9 Việt Nam; học văn hóa thực hiện song song với học nghề. Cấu trúc chương trình theo mô – đun linh hoạt. Người học ra trường bảo đảm đạt được trình độ văn hóa theo chuẩn và trình độ kỹ năng.
Mô hình đào tạo Trung học nghề được quy định trong Luật GDNN số 124/2025/QH có điểm cơ bản là:
Trung học nghề được xác lập trong hệ thống GDNN thông qua hai phương diện” chương trình giáo dục trung học nghề” và “ trường trung học nghề”. Chương trình giáo dục trung học nghề là một trong các chương trình đào tạo của GDNN, bên cạnh cao đẳng, trung cấp, sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề. Giáo dục trung học nghề cùng cấp học với giáo dục trung học phổ thông, dành cho người đã hoàn thành chương trình giáo dục trung học cơ sở hoặc tương đương (quy định tại Điều 35 Luật Giáo dục 2019 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 10 Điều 1 Luật 123/2025/QH15).
Theo quy định tại Điều 6 Luật Giáo dục nghề nghiệp, chương trình giáo dục trung học nghề nhằm hoàn thiện học vấn phổ thông, trang bị cho người học năng lực thực hiện, giải quyết được các công việc trong điều kiện ổn định và môi trường quen thuộc của ngành, nghề; khả năng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào công việc, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm. Mục tiêu này thể hiện định hướng đào tạo thực hành, chú trọng kỹ năng nghề và năng lực thích ứng nghề nghiệp hơn đào tạo nặng nề về lý thuyết hàn lâm.
Như vậy, mô hình Trung học nghề, tiếp nhận học sinh ngay sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở (ở độ tuổi 14-15), và chỉ cần từ 3 năm để vừa hoàn thiện nền tảng học vấn phổ thông, vừa làm chủ một kỹ năng nghề nghiệp cơ bản. Với một môi trường giáo dục có tính phân hóa cao, nơi người học được tham gia vào quá trình “học tập dựa trên giải quyết vấn đề” (problem-based learning) và “học tại nơi làm việc” (worked – based learning). Sự đan xen giữa việc tiếp thu kiến thức văn hóa cốt lõi và các thao tác thực hành nghề nghiệp giúp duy trì sự tập trung, kích thích hứng thú, và đáp ứng đúng nhu cầu trải nghiệm thực tế cũng như đặc điểm nhận thức linh hoạt của lứa tuổi 15.
Chương trình giáo dục trung học nghề được thiết kế theo hướng:
– Chương trình tích hợp giữa kiến thức cốt lõi của chương trình trung học phổ thông và chuyên môn nghề. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định kiến thức chương trình trung học phổ thông thuộc chương trình giáo dục trung học nghề.
– Cấu trúc chương trình giáo dục trung học nghề bao gồm: phần kiến thức chương trình trung học phổ thông và phần chuyên môn nghề.
Phần kiến thức chương trình trung học phổ thông trong chương trình giáo dục trung học nghề (chiếm 40-50% tổng thời lượng chương trình) bao gồm các môn học, hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông với nội dung phù hợp do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định;

Phần chuyên môn nghề (chiếm 50-60% tổng thời lượng) bao gồm các môn học, mô-đun cơ sở; các môn học; mô-đun chuyên môn và các nội dung học tập khác do cơ sở hoạt động giáo duc nghề nhiệp xác định, bảo đảm phù hợp với mục tiêu và chuẩn đầu ra của chương trình. Việc tổ chức đào tạo phải gắn với chuẩn chương trình đào tạo, nhu cầu thị trường lao động và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương, ngành nghề và quốc gia, bảo đảm quy định về tuyển sinh, đào tạo, kiểm tra, thi, xét công nhận tốt nghiệp trong giáo dục nghề nghiệp.
Người học học hết chương trình giáo dục trung học nghề và đủ đủ điều kiện theo quy định thì được dự thi tốt nghiệp; đạt yêu cầu thì được người đứng đầu cơ sở hoạt động GDNN cấp bằng trung học nghề; trường hợp người học không dự thi tốt nghiệp hoặc thi tốt nghiệp không đạt yêu cầu thì được người đứng đầu cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp cấp giấy chứng nhận hoàn thành chương trình học. Giấy chứng nhận hoàn thành chương trình được sử dụng để đăng ký dự thi lấy bằng trung học nghề hoặc sử dụng trong trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật.
Về trình độ chuẩn đào tao của giáo viên, giảng viên cho chương trình đào tạo Trung học nghề:
– Có bằng cử nhân hoặc văn bằng trình độ tương đương trở lên đối với giáo viên trung học nghề dạy lý thuyết;
– Có bằng cao đẳng trở lên đối với giáo viên trung học nghề dạy thưc hành;
– Giảng viên trung học nghề dạy thực hành nếu không có văn bằng theo quy định thì phải có năng lực thực hành nghề phù hợp với trình độ giảng dạy.
– Giảng viên vừa dạy lý thuyết vừa dạy thực hành phải đáp ứng đồng thời quy định để dạy lý thuyết và thực hành.
– Nhà nước có chính sách hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ giảng viên, giáo viên đang công tác tại cơ sở GDNN để giảng dạy chương trình giáo dục trung học nghề.
Người học chương trình giáo dục trung học nghề được miễn hoặc được hỗ trợ học phí; được hưởng các chính sách nội trú và hỗ trợ chi phí đào tạo theo quy định.
Người học hoàn thành chương trình trung học nghề theo quy định thì được cấp bằng trung học nghề. Với bằng trung học nghề, người học có thể học tiếp lên cao đẳng, đại học ở những ngành nghề phù hợp hoặc tham gia thị trường lao động.
Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025, với việc chính thức quy định hệ Trung học nghề, đã trao một cơ hội lịch sử cho các trường Cao đẳng, Trung cấp đón luồng đầu vào từ trung học cơ sở, nâng cao quy mô tuyển sinh; đào tạo thế hệ nhân lực trẻ mới, nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức về đội ngũ người dạy; mô hình và quản trị đào tạo, vấn đề đầu ra việc làm và liên thông cho người học. Để sớm triển khai và tổ chức thành công mô hình đào tạo này, có một số khuyến nghị đối với trường Cao đẳng và Trung cấp.
Về đổi mới và nâng cao đội ngũ năng lực nhà giáo: Các trường khi triển khai chương trình phải có đủ số lượng giáo viên để giảng dạy nội dung kiến thức chương trình trung học phổ thông trong chương trình giáo dục trung học nghề và chuyên môn nghề, bảo đảm giáo viên đạt trình độ chuẩn đào tạo, năng lực sư phạm, năng lực thực hành nghề. Các cơ sở đào tạo nghề phải khẩn trương rà soát và nâng chuẩn trình độ cho lực lượng giáo viên hiện hữu.
Các nhà trường cần xây dựng lộ trình bồi dưỡng, cử giáo viên đi đào tạo nâng cao để tránh tình trạng “hụt nhân sự” khi đi vào thực hiện. Cần tiến hành đào tạo chéo: giáo viên dạy văn hóa phải có hiểu biết cơ bản về khối ngành kỹ thuật nhà trường đang đào tạo để lồng ghép tính ứng dụng vào bài giảng; giáo viên thực hành cũng cần cập nhật tư duy logic và kỹ năng mềm.
Mặt khác, các trường cần triển khai triệt để quy định của Luật “giảng viên đồng cơ hữu” – một điểm sáng của Luật Giáo dục nghề nghiệp 2025. Nhà trường cần thiết lập cơ chế pháp lý và tài chính để thu hút các chuyên gia kỹ thuật, kỹ sư trưởng, quản đốc từ các doanh nghiệp đối tác, cũng như viên chức trình độ các từ các đơn vị sự nghiệp khác tham gia giảng dạy lâu dài. Cơ chế này không chỉ giải quyết triệt để bài toán thiếu hụt giáo viên thực hành chuyên sâu, mà còn đảm bảo quá trình chuyển giao công nghệ từ thực tiễn sản xuất vào giảng đường diễn ra liên tục, loại bỏ độ trễ về công nghệ đào tạo.
Về xây dựng chương trình đào tạo và phương pháp đánh giá: Trước hết việc xây dựng chương trình phải tuân thủ nguyên tắc “tích hợp” theo Điều 18 của Luật Giáo dục nghề nghiệp 2025. Các trường nên ứng dụng cấu trúc chương trình “xoắn ốc” (Spriral Curriculum) tương tự như mô hình KOSEN của Nhật Bản. Theo đó, kiến thức văn hóa cốt lõi (Toán, Ngữ Văn, và các môn khoa học) phải được đan xen ngay từ học kỳ đầu tiên của từng năm học, nhường không gian cho kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành tăng dần.
Bên cạnh đó, chương trình cần phải phát triển theo mô hình tiếp cận năng lực (Competency- based learning). Việc biên soạn giáo trình phải bắt nguồn từ quá trình phân tích công việc thực tế tại doanh nghiệp (phương pháp DACUM). Các môn học văn hóa phổ thông nên được “bối cảnh hóa” (contextualized) gắn liền với từng ngành nghề cụ thể. Cấu trúc chương trình phải được mô – đun hóa với hệ thống tín chỉ mở, cho phép người học tích lũy và chuyển đổi tín chỉ linh hoạt giữa các cấp độ từ sơ cấp, trung học nghề lên cao đẳng.
Về tổ chức đào tạo: Các trường nghề cần tái thiết kế không gian học tập; môi trường học tập hiện đại không còn giới hạn trong không gian nhà trường, mở rộng sang doanh nghiệp, môi trường số. Mô hình trung học nghề đòi hỏi sự xóa nhòa ranh giới giữa lý thuyết và thực hành. Các phòng học lý thuyết cần được bố trí liền kề hoặc lồng ghép trực tiếp vào xưởng thực hành để tạo thuận lợi cho phương pháp giảng dạy tích hợp (theory – practice intergration).
Cần ưu tiên ngân sách đầu tư đồng bộ cho hệ thống phần mềm mô phỏng (simulation), học liệu điện tử (e – learning), và hệ thống quản trị đào tạo trực tuyến (LMS) để tăng cường tính trực quan và khả năng tự học cho học sinh. Triển khai mô hình học tập thông qua thử nghiệm, thiết kế và mô phỏng thực tế ảo/thực tế tăng cường giúp người học học tập thông qua thử nghiệm, thiết kế và mô phỏng các quy trình nghề nghiệp. Cần chuyển dịch quản trị dựa trên dữ liệu, ứng dụng hồ sơ học tập số; hệ thống quản lý tiến bộ người học; theo dõi trải nghiệm nghề nghiệp.
Về công tác truyền thông và tuyển sinh: với quy định mới trung học nghề là cơ hội vàng để tổ chức các chiến dịch truyền thông từ Trung ương tới các trường để làm thay đổi nhận thức định kiến xã hội, khi nhiều phụ huynh vẫn coi luồng đào tạo này là “bước đường cùng” dành cho học sinh trượt phổ thông. Để thay đổi điều này, các cơ sở GDNN cần định hướng thương hiệu của hệ Trung học nghề.
Các trường cần thiết kế các chiến dịch quảng bá hướng tới nhóm học sinh có học lực từ mức khá trở lên, đặc biệt là những cá nhân bộc lộ sớm thiên hướng trí thông minh kỹ thuật và kỹ năng sáng tạo thực hành. Thông điệp truyền thông cần làm nổi bật lợi thế cạnh tranh tuyệt đối của mô hình: tiết kiệm từ 2 đến 3 năm học tập, sở hữu bằng trung học nghề, lộ trình liên thông cao đẳng thông suốt, và cơ hội tiếp các vị trí việc làm có mức thu nhập vượt trội ngay ở độ tuổi 18-20. Các trường cao đẳng, trung cấp cần hợp tác chặt chẽ với trường phổ thông để đưa các công cụ đánh giá tâm lý học, trắc nghiệm năng lực và sở trường vào quá trình tư vấn sớm cho cho học sinh lớp 8 và lớp 9 để tư vấn phân luồng tuyển sinh cho học sinh và phụ huynh.
Để quy định đào tạo trung học nghề sớm thực hiện cần ban hành quy định chuẩn chương trình đào tạo trong GDNN; quy định quy chế đào tạo, kiểm tra, xét công nhận tốt nghiệp đối với các trình độ của GDNN; quy định về chuẩn kỹ năng đầu ra cho hệ trung học nghề và ban hành đồng bộ quy định về đào tạo và liên thông trung học nghề lên cao đẳng và đại học.
Chúng ta hoàn toàn tin tưởng mô hình trung học nghề được triển khai có hiệu quả và mong chờ sau 3 năm một lớp nhân lực trẻ mới được đào tạo theo mô hình trung học nghề sẽ tham gia vào thị trường lao động và liên thông cấc trình độ cao./.
Trần Phương Thảo
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam
Hotline: 