09/12/2025 7:17:16

“Muốn bứt phá năng suất lao động thì phải chuẩn hoá kỹ năng nghề”

Trong một nội dung trình bày mới đây về chuẩn năng lực, đánh giá công nhận kỹ năng nghề, TS. Đặng Minh Sự nhấn mạnh rằng, muốn tăng năng suất lao động, không thể bỏ qua chuyện chuẩn hóa kỹ năng nghề.

Ông nói: Bởi vì thế giới đã đi rất xa rồi! Bây giờ 50% công việc toàn cầu từ nay đến 2030 đòi hỏi kỹ năng nghề bậc trung và bậc cao (theo ILO), trong khi Việt Nam mới chỉ ban hành được khoảng vài chục bộ chuẩn nghề trên hơn 800 nghề đào tạo. Như vậy là quá chênh lệch.

Nói như ông, “chuẩn kỹ năng nghề là chìa khóa cạnh tranh”, vậy vì sao đến lúc này, chúng ta mới bàn đến?

Ở TP.HCM nói riêng, và cả nước nói chung doanh nghiệp luôn than thiếu người có kỹ năng, hay đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu doanh nghiệp. Vấn đề này lâu nay vẫn là “ biết rồi, khổ lắm, nói mãi” nhưng chưa thực sự được giải quyết triệt để. Có nghĩa là, chúng ta đào tạo chưa chuẩn kỹ năng so với thực tế, học một đằng, ra làm một nẻo.

Tiến sĩ Đặng Minh Sự. Ảnh: N.N

Ngoài ra, những nghề đang phát triển nhanh như Digital Marketing, E-commerce, làm đẹp, thiết kế 3D… gần như chưa có chuẩn chính thức, nên mỗi trường dạy một kiểu. Người học cũng khó xác định mình đã đạt chuẩn gì, ở mức nào.

Tôi nghĩ nếu không làm ngay, khoảng cách kỹ năng giữa Việt Nam với các nước dẫn đầu trong khu vực sẽ càng lớn. Mà kinh tế số thì không đợi ai cả.

Nhưng chúng ta đã có Luật GDNN và chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia rồi mà, thưa ông?

 Đúng là có luật, nhưng cái thiếu chính là cách triển khai và cập nhật. Ví dụ: có những nghề phát triển cực nhanh, một số nghề 3–5 năm là thay đổi cấu trúc công việc rồi, nếu chuẩn không cập nhật thường xuyên thì sẽ tụt lại ngay.

Điểm yếu lớn nhất bây giờ là thiếu ngân hàng đề thi, thiếu tiêu chí đánh giá và đặc biệt thiếu chuyên gia chuẩn hóa theo chuẩn quốc tế. Một số thống kê cho thấy thí sinh Việt Nam tham gia WorldSkills có điểm kỹ thuật thấp hơn 18–25% so với Hàn Quốc, Nhật Bản. Nguyên nhân chính là học liệu và huấn luyện vẫn chưa theo chuẩn thế giới.

Ngay cả doanh nghiệp, lẽ ra phải đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng chuẩn, thì họ cũng chưa tham gia nhiều. Singapore thì khác: 95% chuẩn nghề có doanh nghiệp tham gia, nên người học gần như “bước ra là làm được ngay”. Còn Việt Nam thì phần lớn do nhà trường tự xây, nên rất khó sát nhu cầu.

Vậy theo ông, hệ thống GDNN nói chung và GDNN TP.HCM nói riêng nên bắt đầu từ đâu để không lỡ nhịp?

Trước hết, phải xác định TP.HCM phải đi đầu. Thành phố có lợi thế lớn về doanh nghiệp, về tốc độ chuyển đổi số, về các ngành nghề dịch vụ, nên nếu làm mô hình mẫu, cả nước có thể làm theo.

Tôi đề xuất xây dựng mô hình chuẩn năng lực “4 lớp”: chuẩn theo WorldSkills/ASEAN, chuẩn đầu ra, chuẩn tiêu chí đánh giá và hồ sơ năng lực. Mô hình này cho phép các nghề chưa có chuẩn quốc gia vẫn có chuẩn tạm thời do doanh nghiệp và chuyên gia cùng xây dựng. Nó linh hoạt và phù hợp với tốc độ nghề mới xuất hiện nhanh như bây giờ.

Ngoài ra, cần Tổ công tác chuẩn nghề mới, mỗi năm xây 10 đến 20 chuẩn, tiến tới 100 nghề công nghệ cao vào 2028–2030. Đặc biệt, cần chuyển đổi số trong đánh giá, ứng dụng VR/AR, AI… ví dụ nghề may có thể dùng AI đánh giá đường may; nghề pha chế thì mô phỏng quy trình. Các nước áp dụng mô phỏng đã giảm được đến 40% lỗi kỹ thuật của người học.

Nói cách khác, muốn hội nhập thì chuẩn nghề trong nước phải ngang chuẩn thế giới chứ không chỉ theo luật trong nước.

Thưa ông, nếu chỉ được chọn một đột phá để rút ngắn khoảng cách kỹ năng, ông sẽ chọn gì?

Tôi nói thật, muốn phát triển công nghệ hay số hoá thì cái gốc vẫn là con người. Máy móc, VR, AI chỉ là công cụ thôi. Chúng ta cần một lực lượng chuyên gia kỹ năng nghề thực sự, đủ sức viết chuẩn, cập nhật tiêu chí, biên soạn học liệu và tham gia đánh giá theo chuẩn quốc tế.

Theo chuẩn HRD Korea, một nghề cần 5–7 chuyên gia viết chuẩn. Việt Nam bây giờ còn thiếu rất nhiều. Cho nên phải gửi người đi học, mời chuyên gia quốc tế về, và tích cực tham gia WorldSkills, không chỉ tham gia thi mà còn phải có nhân lực đủ tầm làm giám khảo,

Bên cạnh đó, tôi nhìn thấy một “cơ hội vàng” ở truyền thông. Những nước làm tốt truyền thông về kỹ năng nghề đều thu hút được từ 30–50% người trẻ vào nghề đang thiếu nhân lực.

Tôi tin câu chuyện kỹ năng nghề nếu được kể đúng cách, ví dụ như: hành trình của một người thợ trẻ, hay những video nghề nghiệp trên TikTok, YouTube… sẽ thay đổi rất mạnh nhận thức xã hội.

Cuối cùng, chúng ta phải xem kỹ năng nghề là nền tảng của năng suất lao động, là tương lai của nền kinh tế tri thức. Khi Việt Nam chuẩn hóa được kỹ năng, chúng ta hoàn toàn có thể bước ra sân chơi khu vực với tư thế mới, tự tin hơn nhiều.

Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện rất thực tế và truyền cảm hứng này!

 

Quỳnh Lam

Comments are closed.