05/11/2019 12:20:00

Luận bàn một số vấn đề về quy hoạch mạng lưới cơ sở GDNN

Hiện nay việc quy hoạch mạng lưới CSGDNN là không dễ dàng, vì có quá nhiều biến số tác động, các biến số lại luôn thay đổi.

1.Quy hoạch mạng lưới các CSGDNN là khó khăn nhất và phức tạp nhất trong các cấp học của hệ thống giáo dục quốc dân

          So với các cấp học khác trong hệ thống giáo dục quốc dân thì quy hoạch mạng lưới các CSGDNN là khó khăn nhất và phức tạp nhất vì các lý do sau:

  • Quy mô đào tạo GDNN là lớn nhất trong lực lượng lao động qua đào tạo. GDNN đảm trách trên 87% lao động qua đào tạo[1]; quy mô tuyển sinh hằng năm đạt trên 2 triệu lượt người;
  • Trong mạng lưới có trên 1.974 cơ sở GDNN (chưa kể đến các cơ sở đào tạo trong doanh nghiệp và tại các cơ sở giáo dục khác có chức năng và nhiệm vụ đào tạo nghề nghiệp)[2]
  • Rất đa dạng về các loại hình CSGDNN (trường cao đẳng, trường trung cấp, trung tâm GDNN, lớp đào tạo nghề) [3], trung tâm GDNN-GDTX [4]
  • Đa dạng về trình độ đào tao: Các CSGDNN thực hiện đào tạo các trình độ cao đẳng, trung cấp, sơ cấp và các chương trình đào tạo dưới 3 tháng theo phương thức đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên
  • Đối tượng tham gia các khóa học cũng rất phong phú: Đầu vào đối với trình độ cao đẳng tốt nghiệp THPT; đầu vào đối với trình độ trung cấp tốt nghiệp THCS; đầu vào đối với trình độ sơ cấp và đào tạo ngắn hạn dưới 3 tháng tốt nghiệp tiểu học và không quy định trình độ văn hóa; cả những người đã tốt nghiệp các trình độ đào tạo khác (đại học và trên đại học) cũng tham gia các khóa đào tạo khi có nhu cầu.

     Do vậy quy hoạch mạng lưới CSGDNN có phổ rất rộng, mở và đáp ứng linh hoạt nhu học nghề, khởi nghiệp của người học và thị trường việc làm.

2.Quy hoạch mạng lưới các CSGDNN là quy hoạch đầu tiên trong lĩnh vực GDNN

          Trong quá trình hình thành và phát triển GDNN,do phân công quản lý nhà nước và cải cách hành chính trong từng giai đoạn khác nhau nên các cấp đã ban hành một số quy hoạch mạng lưới khác nhau.

          – Chính phủ phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các trường dạy nghề giai đoạn 2002-2010[5];

          – Bộ LĐTBXH phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020[6];

          –  Chính phủ phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các trường đại học cao đẳng giai đoạn 2006-2020 (trong đó có các trường cao đẳng)[7];

          –  Các trường trung cấp chuyên nghiệp (theo Luật giáo dục 2005) chưa bao giờ được đưa vào quy hoạch.

          Là Quy hoạch đầu tiên nên quy hoạch mạng lưới CSGDNN cần kế thừa các quy hoạch đã có trước đây, đồng thời phải mang đặc tính và bản sắc riêng của cả cấp học GDNN thống nhất.

         Quy hoạch mạng lưới GDNN là khó nhất trong các cấp học của hệ thống giáo dục quốc dân

Tính hệ thống là nguyên tắc của quy hoạch tổng thể, GDNN là một cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất. Vì vậy quy hoạch mạng lưới CSGDNN và quy hoạch mạng lưới cơ sở của các cấp học khác trong hệ thống giáo dục quốc dân, phải có mối quan hệ gắn kết, đồng bộ, tương hỗ, chia sẻ, bổ sung, tiếp nối và cùng phát triển. Ví dụ quy hoạch mạng lưới CSGDNN và quy hoạch mạng lưới cơ sở cấp giáo dục phổ thông (cùng chia sẻ trách nhiệm phân luồng); quy hoạch mạng lưới CSGDNN và quy hoạch mạng lưới cơ sở cấp giáo dục đại học (cùng cộng đồng trách nhiệm phát triển nguồn nhân lực).

Tính hệ thống còn thể hiện ở chỗ các quy hoạch của các cấp học không là rào cản và không phá vỡ quy hoạch của nhau. (Ví dụ mạng lưới cơ sở đại học phát triển quá rộng, quy định các cơ sở đào tạo đa trình độ…).

Không chỉ đảm bảo tính hệ thống đối với các cấp học khác mà chính ngay trong nội tại quy hoạch mạng lưới CSGDNN cũng phải đảm bảo tương quan giữa các trình độ đào tạo trong cơ cấu nhân lực, tương quan vùng, miền, địa phương, phân tầng chất lượng và sự biến động tương quan đó trong thị trường lao động, đáp ứng nhu cầu của xã hội trong từng giai đoạn phát triển kinh tế – xã hội.

          “Sắp xếp, tổ chức lại hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở và linh hoạt đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động…” [8] là định hướng quan trọng để xây dựng và triển khai quy hoạch mạng lưới CSGDNN.

          Quy hoạch mạng lưới CSGDNN theo hướng mở và linh hoạt được nhìn nhận ở 2 khía cạnh:

          – Tạo cơ hội thuận lợi cho các lực lượng xã hội tham gia vào quá trình phát triển CSGDNN. Đồng thời  để mọi người lao động tiếp cận với các dịch vụ GDNN,  ai cũng có cơ hội học tập, ai cũng được xã hội tạo điều kiện và không loại trừ bất cứ ai trong xã hội được học nghề, khởi nghiệp và hành nghề.

          – Gỡ bỏ tất cả rào cản pháp lý, tài chính và kỹ thuật trong hoạt động phát triển CSGDNN (trong đó rào cản lớn nhất và phổ biến là những chế định không phù hợp) và để giải phóng và huy động mọi tiềm năng trong xã hội tham gia hoạt động và phát triển mạng lưới CSGDNN.

          Quy hoạch CSGDNN theo hướng mở linh hoạt phù hợp với Mục tiêu thứ 4 trong 17 mục tiêu phát triển bền vững (SDGs) của Liên Hiệp quốc đến năm 2030 là: “Đảm bảo giáo dục chất lượng, rộng mở, công bằng và nâng cao cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người”.

  1. Mối quan hệ giữa chất lượng và quy mô trong quy hoạch mạng lưới CSGDNN

         Trong giáo dục và đào tạo luôn luôn tồn tại mâu thuẫn nội tại giữa mở rộng quy mô với đảm bảo chất lượng, đối với lĩnh vực GDNN cũng không nằm ngoài mâu thuẫn trên.

          – Chất lượng đào tạo của GDNN là bất biến. Mặt trái và thách thức khi quy hoạch mạng lưới CSGDNN là chưa quan tâm đến chất lượng khi phải quá lo lắng đến quy mô tuyển sinh để tồn tại trong cơ chế thị trường. Tuy nhiên không vì quy mô mà dễ dãi với chất lượng, buông lỏng kiểm soát và quản lý chất lượng. Phân tầng chất lượng trong quy hoạch là rất cần thiết để trong hệ thống có đội ngũ lao động trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có kỹ năng cao tiếp cận với cách mạng công nghiệp 4.0

          – Để tăng quy mô đào tạo quy hoạch mạng lưới CSGDNN cần đa dạng các loại hình cơ sở GDNN và phân bổ hợp lý trên địa bàn, các vùng miền, để người lao động thuận lợi tiếp cận với các dịch vụ GDNN ở bất cứ đâu, vào bất cứ lúc nào, dưới bất cứ hình thức đào tạo nào, bất cứ trình độ đào tạo nào và thực hiện học suốt đời. Quy hoạch mạng lưới CSGDNN cần đáp ứng công bằng về cơ hội học nghề của mọi người không loại trừ bất kỳ ai, nhất là các đối tượng yếu thế. Tăng quy mô nhưng cần kiểm soát chặt chẽ chất lượng đầu ra.

  1. Một số yếu tố tác động đến định hướng quy hoạch mạng lưới CSGDNN
  2. a) Chủ trương trao quyền tự chủ đầy đủ và toàn diện cho các CSGDNN

          Trao quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình sẽ tác động lớn đến quy hoạch mạng lưới CSGDNN. “Nhiều khả năng sức mạnh từ sự trao quyền là khởi nguồn cho một trong những tác động lớn lao nhất”[9] ở tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội – văn hóa, trong đó có GDNN. Yếu tố quan trọng nhất của tự chủ phải đảm bảo tính “bất biến” về chất lượng đào tạo của CSGDNN.

Trao quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình cho các CSGDNN công lập chắc chắn sẽ tạo nên bản sắc mới của quy hoạch mạng lưới, nhưng cũng có thể dẫn đến tình trạng biến động về quy mô, ngành nghề đào tạo, khả năng huy động nguồn lực đầu tư…và tác động đến quy hoạch mạng lưới CSGDNN của từng địa phương, ngành và của cả nước

  1. b) Vai trò của doanh nghiệp đối với quy hoạch mạng lưới CSGDNN

Thực chất đào tạo nghề chủ yếu là đào tạo thực hành trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Khuyến nghị về mô hình giáo dục sẵn sàng cho tương lai đề xuất 8 lĩnh vực hành động chủ chốt trong đó có: “Tiếp xúc sớm với vị trí việc làm và tư vấn hướng nghiệp thường xuyên, liên tục”.[10]

Doanh nghiệp là đối tác tham gia vào cả quá trình đào tạo nghề nghiệp: Đầu vào – Quá trình dạy và học – Đầu ra. Doanh nghiệp cũng tham gia cùng CSGDNN điều tiết hoạt động đào tạo để thích ứng linh hoạt với môi trường kinh tế-xã hội, khoa học, công nghệ luôn biến động.

             Doanh nghiệp tham gia sâu và đa chiều vào hoạt động đào tạo của các CSGDNN từ ý tưởng; xây dựng chiến lược, quy hoạch; tuyển sinh; ươm tạo  khởi nghiệp; phát triển cơ sở đào tạo tại doanh nghiệp, liên kết đào tạo, đặt hàng đào tạo; địa điểm đào tạo; phát triển chương trình; đánh giá chất lượng đào tạo; chia sẻ nguồn lực, tài nguyên mở, tư vấn hướng nghiệp và tạo việc làm cho học sinh – sinh viên sau tốt nghiệp.

Việc phát triển CSGDNN trong doanh nghiệp, nhất là ở những tập đoàn mạnh cũng phải được nhìn nhận là một phần không tách rời của bản quy hoạch mạng lưới CSGDNN.

  1. c) Tác động hai chiều của cách mạng công nghiệp 4.0 đến quy hoạch mạng lưới CSGDNN

          Cách mạng công nghiệp 4.0 với độ phức tạp và tích hợp nhiều công nghệ khác nhau  làm thay đổi từng hệ thống, giữa các hệ thống và toàn bộ đời sống xã hội, trong đó có GDNN. Quy mô và tốc độ của sự đổi mới công nghệ xét trên cả hai phương diện: sự phát triển và tính phổ biến diễn ra nhanh hơn bao giờ hết.

Theo Klaus Schwab, cách mạng công nghiệp 4.0 tác động đến việc làm theo hai chiều. Một số nghề mất đi theo đó là thất nghiệp và chuyển đổi nghề và xuất hiện nghề mới, việc làm mới và cơ hội kinh doanh mới…
Cách mạng công nghiệp 4.0 làm phát sinh thị trường lao động ngày càng tách biệt giữa hai lĩnh vực “kỹ năng thấp/thu nhập thấp” và “kỹ năng cao/thu nhập cao”, hậu quả là dãn sâu khoảng cách về thu nhập trong thị trường lao động. Những ngành nghề sử dụng nhiều lao động rẻ, kỹ năng thấp sẽ mất lợi thế cạnh tranh, hậu quả là một phần lực lượng lao động kỹ năng thấp có thể bị thải hồi. Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng có thể gây ra nguy cơ phá vỡ thị trường lao động.

          Sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ, nhất là kỹ thuật số đòi hỏi nguồn nhân lực có năng lực sáng tạo và thích ứng nhanh. Cơ cấu trình độ, sự phân tầng chất lượng, ngành nghề mới sẽ hình thành hệ thống trường lớp mở, phương phức đào tạo mới sẽ phá vỡ kiểu quy hoạch mạng lưới CSGDNN truyền thống với những tác động sâu sắc chưa thể lường trước.

          Cùng với bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, một số yếu tố trên tác động mạnh mẽ đến định hướng phát triển GDNN trong thời gian tới, đồng thời đặt ra những thách thức gay gắt đối với quy hoạch mạng lưới CSGDNN. Chỉ có thể tận dụng được cơ hội và giảm thiểu những tác động tiêu cực của các yếu tố trên khi tiếp cận xây dựng Quy hoạch mạng lưới CSGDNN theo hướng mở, mềm dẻo, linh hoạt và liên thông.

  1. 7. Bước đi và tiến độ triển khai quy hoạch mạng lưới CSGDNN

Cùng với quá trình hình thành các quy hoạch mạng lưới CSGDNN đã có trước đây, kết hợp với tác động của bối cảnh mới cần lựa chọn và xác định bước đi phù hợp. Một mặt giữa được sự ổn định trong hoạt động đào tạo, không nóng vội, không làm rối và phá vỡ mạng lưới CSGDNN hiện có; mặt khác từng bước rà soát, sàng lọc, lựa chọn và đổi mới quy hoạch mạng lưới theo hướng mở, linh hoạt, liên thông; coi đảm bảo chất lượng, năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực là tiêu chí ưu tiên hàng đầu khi xây dựng quy hoạch.

Hai giải pháp hàng đầu để xây dựng quy hoạch mạng lưới CSGDNN hiệu quả là: Đổi mới tư duy về GDNN, về quy hoạch mạng lưới CSGDNN và Ban hành hệ thống chính sách phát triển phù hợp.

[1] Quyết định số 1216/QĐ-TTg  ngày 22/7/2011 của Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020

[2] Báo cáo thực trạng và định hướng quy hoạch mạng lưới CSGDNN đến 2020 và tầm nhìn 2030

[3] Luật Giáo dục nghề nghiệp

[4] Thông tư liên tịch số 39/2015/TTLT-BLĐTBXH-BGDĐT,BNV ngày 19/10/2015

[5] Quyết định 48/2002/QĐ-TTg ngày 11/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ

[6] Quyết định số 07/2006/QĐ-BLĐTBXH ngày 07/6/2006

[7] Quyết định  số 121/2007/QĐ-TTg ngày 27/7/2007 và Quyết định số 37/2013/QĐ-TTg ngày 26/6/2013

[8] Nghị quyết 19-NQ/TW ngày  25/10/2017

[9]Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0- Kluas Schwab

[10]Tài liệu Hội thảo “ Phát triển Giáo dục nghề nghiệp mở và linh hoạt tạo cơ hội cho người lao động học nghề, khởi nghiệp, việc làm bền vững.”- Thang 9/2018