30/11/2025 9:03:34

“Tụt hậu” với thế giới về công nghệ sinh học và bài toán chiến lược nhân lực của Việt Nam

Mặc dù công nghệ sinh học đang bước vào giai đoạn bùng nổ trên thế giới với giá trị thị trường toàn cầu lên tới hàng nghìn tỉ USD mỗi năm, Việt Nam vẫn chỉ chiếm chưa đến 0,1% thị phần. Khoảng cách lớn về năng lực nghiên cứu, thương mại hóa, hạ tầng và nhân lực đang khiến nước ta đứng ngoài cuộc đua tốc độ cao này.

Công nghệ sinh học của Việt Nam đang có khoảng cách khá xa so với thế giới. (Ảnh minh họa)

Khoảng cách ngày càng rộng nếu không hành động quyết liệt

Theo phân tích tại hội thảo quốc gia về chiến lược phát triển công nghệ sinh học giai đoạn 2026–2030 (tầm nhìn 2045), quy mô thị trường công nghệ sinh học của Việt Nam hiện chỉ vào khoảng 1,5 tỉ USD, trong khi thế giới đạt 1,8 nghìn tỉ USD. Điều này cho thấy Việt Nam chưa có doanh nghiệp đầu ngành đủ sức tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; đầu tư cho nghiên cứu, phát triển còn khiêm tốn; nhiều kết quả nghiên cứu trong nước không được thương mại hóa; chính sách, thủ tục cấp phép, thử nghiệm còn chậm, thiếu sự đột phá.

Dù Việt Nam có nguồn nhân lực trí thức tốt, số lượng nhà khoa học trẻ được đào tạo bài bản ở nước ngoài ngày càng nhiều, nhưng đội ngũ nhân lực cho công nghệ sinh học vẫn thiếu nghiêm trọng cả về số lượng, chất lượng và tính liên ngành.

Nếu không kịp thời xây dựng chiến lược nhân lực, Việt Nam có thể bị bỏ lại phía sau khi công nghệ sinh học trở thành ngành cạnh tranh chiến lược toàn cầu, gắn trực tiếp với an ninh y tế, an ninh lương thực và tăng trưởng kinh tế xanh.

Nhân lực là “nút thắt” lớn nhất của phát triển công nghệ sinh học Việt Nam

Tại hội thảo, nhiều chuyên gia khẳng định:

“Nguồn nhân lực là nơi Việt Nam thua kém nhiều nhất so với thế giới trong lĩnh vực công nghệ sinh học.”

Dù có hàng trăm nhà khoa học và kỹ sư AI – sinh học đang làm việc tại Việt Nam, nhưng lực lượng này vẫn còn mỏng, phân tán, thiếu một trung tâm mạnh dẫn dắt, ít được tiếp cận các phòng thí nghiệm chuẩn quốc tế (GMP, GLP). Nhân lực ngành công nghệ sinh học của Việt Nam cũng thiếu kỹ năng ứng dụng công nghệ mới về chỉnh sửa gen, giải trình tự, thiết kế thuốc bằng AI, mô phỏng sinh học.

Ngoài ra, Việt Nam cũng thiếu nhân lực quản lý công nghệ sinh học, nhân lực pháp lý, an toàn sinh học, thiếu đội ngũ kỹ thuật viên, công nghệ viên có tay nghề thực hành cao.

Để phát triển nguồn nhân lực công nghệ sinh học, các đại biểu cho rằng Việt Nam cần Xây dựng chương trình đào tạo nhân lực “3 lớp”. Trong đó lớp 1 là những chuyên gia đầu ngành, gồm những nnhà khoa học ưu tú về tế bào gốc, y học tái tạo, vaccine, nông nghiệp sinh học, sinh học môi trường được đào tạo ở các viện lớn trên thế giới và cần có chương trình thu hút họ quay về.

Lớp 2 là những kỹ sư, cử nhân công nghệ sinh học ứng dụng được đào tạo theo mô hình “đặt hàng” từ doanh nghiệp, được thực tập dài hạn trong phòng thí nghiệm chuẩn, có khả năng làm việc trong dây chuyền sản xuất sinh phẩm, chế phẩm, dược phẩm.

Lớp 3 là những kỹ thuật viên, công nghệ viên – lực lượng đông đảo, trực tiếp vận hành thiết bị, máy giải trình tự gen, phòng sạch, hệ thống nuôi cấy…và cần chương trình đào tạo nghề đặc thù, ngắn hạn nhưng đạt chuẩn kỹ thuật cao cho nhóm đối tượng này.

Bên cạnh đó, Việt Nam phải Kết hợp mạnh mẽ công nghệ sinh học và trí tuệ nhân tạo (Bio-AI). Trong đó, phát triển nhân lực dữ liệu sinh học, tin sinh học, mô phỏng protein; Đào tạo kỹ năng thiết kế thuốc bằng AI, tối ưu enzyme, vaccine số; Xây dựng cơ sở dữ liệu gen người Việt phục vụ y học cá thể hóa.

Doanh nghiệp phải tham gia từ khâu đào tạo cũng là ý kiến đề xuất được các đại biểu đưa ra. Theo đó, nên đưa chuyên gia doanh nghiệp vào giảng dạy, xây dựng “trường trong doanh nghiệp” để hình thành mô hình đào tạo kép; đầu tư học bổng, tài trợ nghiên cứu, tài trợ phòng thí nghiệm; tạo lộ trình nghề nghiệp rõ ràng để thu hút nhân tài không rời bỏ ngành. 

Khung pháp lý liên quan đến lĩnh vực công nghệ sinh học cũng cần được hoàn thiện để có thể cấp phép nhanh cho thử nghiệm lâm sàng trong nước, rút ngắn quy trình kiểm định, đánh giá an toàn sinh học, thu hút startup, phòng thí nghiệm quốc tế vào đầu tư và tạo môi trường “học trên thực tế” cho nhân lực Việt Nam.

Để xây dựng hệ sinh thái quốc gia về công nghệ sinh học, Việt Nam cần sớm hình thành Trung tâm Công nghệ sinh học quốc gia chuẩn quốc tế, cụm công nghiệp sinh học – y sinh học, mạng lưới nghiên cứu công – tư kết nối các trường đại học, viện nghiên cứu và tập đoàn công nghệ. Đây sẽ là “bệ phóng” để nhân lực Việt Nam được luyện tập trong môi trường chuyên nghiệp, chuẩn quốc tế.

Việt Nam có tiềm năng nhưng đang đứng trước một “khoảng cách rất xa” so với thế giới về công nghệ sinh học. Nếu không đầu tư vào chiến lược nhân lực một cách bài bản – từ đào tạo, cơ chế thu hút, đến môi trường làm việc và hệ sinh thái công nghệ – Việt Nam khó có thể tạo ra bước đột phá.

Ngược lại, nếu làm đúng và làm quyết liệt, công nghệ sinh học hoàn toàn có thể trở thành ngành chiến lược, đưa Việt Nam lên vị thế mới trong nền kinh tế tri thức toàn cầu.

Phan Long