Trình Quốc hội thông qua Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2019; Giải quyết căn bản hồ sơ người có công tồn đọng; Thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp; Hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch Cộng đồng văn hóa xã hội ASEAN năm 2020; Niềm tin của người dân về chính sách xã hội được nâng lên … Đó là những thành tựu nổi bật của ngành LĐ-TB&XH trong giai đoạn 2016-2020.
5 năm qua với phương châm “Đoàn kết – Kỷ cương – Sáng tạo – Hiệu quả”, ngành LĐ-TB&XH đã không ngừng nỗ lực tham mưu cho Đảng, Nhà nước, cho các cấp ủy, chính quyền triển khai đồng bộ, toàn diện các chính sách an sinh xã hội. Các lĩnh vực của Ngành đều chuyển biến tích cực, nổi bật là:
- Tạo dấu ấn đặc biệt trong công tác xây dựng thể chế:
Trình Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 27 – NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương (khu vực doanh nghiệp) và Nghị quyết số 28 – NQ/TW về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội; trình Quốc hội thông qua Bộ luật Lao động sửa đổi năm 2019 và 03 Công ước quốc tế; trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh Ưu đãi người có công (sửa đổi).

Bộ luật Lao động năm 2019 được Quốc hội thông qua là dấu ấn lịch sử trong công tác xây dựng thể chế của Bộ, ngành LĐ-TB&XH. Bộ Luật đã góp phần đổi mới quan hệ lao động bảo đảm hài hòa quyền và lợi ích hợp pháp của cả người lao động và người sử dụng lao động; thực hiện đúng chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và phù hợp hơn với các cam kết, thông lệ quốc tế về lao động.
- Thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp. Gắn kết giáo dục nghề nghiệp – Thị trường lao động – Doanh nghiệp
Giai đoạn 2016-2020, Bộ LĐ-TB&XH đã tập trung chỉ đạo, hướng dẫn triển khai Luật Giáo dục nghề nghiệp, Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Đặc biệt, việc Bộ tham mưu Chính phủ thống nhất một đầu mối quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp về Bộ LĐ-TB&XH, tiếp nhận chức năng quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp đối với các trường cao đẳng, trường trung cấp từ ngành giáo dục và đào tạo; hoàn thiện toàn bộ thể chế về lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp…
- Tạo nhiều đột phá trong lĩnh vực người có công
Giai đoạn 2016-2020, chế độ ưu đãi người có công đã được xây dựng và thực hiện tương đối toàn diện với nhiều điểm đột phá, ngoài trợ cấp còn có chế độ chăm sóc sức khỏe, cải thiện nhà ở, ưu đãi trong y tế, giáo dục đào tạo, sản xuất kinh doanh, tạo việc làm
Với quan điểm “tất cả người có công đều phải được hưởng chính sách”, Bộ đã nghiên cứu, ban hành và chỉ đạo hướng dẫn các địa phương thực hiện việc giải quyết hồ sơ tồn đọng đề nghị xác nhận người có công, đã rà soát, giải quyết gần 6.800 hồ sơ tồn đọng trên cả nước.
Bộ cũng đã chủ trì lần đầu tiên tổ chức Hội nghị gặp mặt, tuyên dương 500 thương binh nặng tiêu biểu toàn quốc; Hội nghị gặp mặt 300 Mẹ Việt Nam anh hùng qua đó, thể hiện rõ sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước đối với người có công với cách mạng và thân nhân. Các cuộc gặp mặt đã để lại dấu ấn sâu sắc và sự đồng tình cao trong dư luận xã hội.
- Giải quyết việc làm cho trên 8 triệu lao động; đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài về đích trước kế hoạch 01 năm; Việt Nam là một trong 10 quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất thế giới
Trong những năm qua, Bộ LĐ-TB&XH tiếp tục thực hiện các giải pháp phát triển thị trường lao động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cùng với nhiều giải pháp đồng bộ nhằm kết nối cung – cầu lao động, giai đoạn 2015- 2020, các trung tâm dịch vụ việc làm đã tổ chức gần 6 nghìn phiên giao dịch việc làm, giới thiệu và cung ứng gần 5 triệu lượt người, 68,5% trong số đó có kết nối việc làm thành công.
Kết quả, cả nước đã giải quyết được trên 8 triệu việc làm, thị trường lao động Việt Nam có sự chuyển biến tích cực; cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực theo cơ cấu kinh tế; tỷ lệ thất nghiệp chung là 2,48% số người trong độ tuổi lao động, khu vực thành thị luôn duy trì dưới 4%.
Đối với công tác đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, các giải pháp duy trì và phát triển các thị trường lao động ngoài nước được tiếp tục thực hiện đồng bộ, mở mới nhiều thị trường tiềm năng ở châu Âu (Séc, Đức, Áo, Bulgari, Rumani). Trong cả giai đoạn 2016 -2020, cả nước đưa khoảng 635 nghìn lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (vượt chỉ tiêu 24%, về đích kế hoạch 5 năm trước 1 năm). Trong đó, số lao động đưa đi năm 2019 đạt mức kỷ lục là hơn 150 nghìn người.
5. Lần đầu tiêp áp dụng chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều, thành tựu về giảm nghèo Việt Nam được quốc tế ghi nhận, đánh giá cao:
Giai đoạn 2016-2020, Việt Nam là một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới và là quốc gia đầu tiên của Châu Á áp dụng chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều. Lĩnh vực giảm nghèo tiếp tục được Quốc hội, Chính phủ quan tâm, ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư trung hạn để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững.
Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều) của cả nước giảm từ 9,88% cuối năm 2015 xuống còn 2,75% vào cuối năm 2020. Thu nhập bình quân hộ nghèo đến cuối năm 2020 tăng gấp 1,6 lần so với năm 2015. Diện mạo nghèo đói ở tất cả các vùng miền trên cả nước đã cải thiện đáng kể. Việt Nam đã hoàn thành, về đích trước 10 năm so với Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG) về giảm nghèo, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.
- Công tác trợ giúp xã hội ngày càng được mở rộng, diện bao phủ ngày càng lớn:
Đến nay, chính sách trợ giúp xã hội đã bao phủ hầu hết các nhóm đối tượng ở mọi lứa tuổi, 3% dân số và 100% đối tượng bảo trợ xã hội đủ điều kiện được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên hằng tháng.
Đặc biệt, năm 2020, Bộ đã lần đầu tiên tổ chức quy mô toàn quốc Lễ tuyên dương 400 điển hình “Những tấm gương sáng thầm lặng vì cộng đồng” nhằm tôn vinh những tổ chức, cá nhân có thành tích đặc biệt trong công tác trợ giúp xã hội, phát triển cộng đồng, tạo hiệu ứng tốt trong xã hội.
- Quyền cơ bản của trẻ em được tôn trọng và đảm bảo. Chỉ số Phát triển giới của Việt Nam nằm trong tốp 5 quốc gia cao nhất thế giới
Hệ thống pháp luật, chính sách về trẻ em từng bước được hoàn thiện, đồng bộ. Chính phủ đã thành lập Ủy ban quốc gia về trẻ em để giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thực hiện chỉ đạo, phối hợp, đôn đốc, điều phối giữa các bộ, ngành và địa phương để trẻ em ngày càng được hưởng đầy đủ hơn các quyền của mình trong đó có quyền phát triển và tham gia.
Cùng với đó, các giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em, phòng, chống tai nạn, thương tích trẻ em cũng được tăng cường.
- Chủ động tham mưu, triển khai chính sách an sinh xã hội, góp phần thực hiện thành công “mục tiêu kép” của Chính phủ
Năm 2020, trong bối cảnh Đại dịch Covid -19 hoành hành, Bộ LĐ-TB&XH đã tập trung cho công tác phòng, chống dịch Covid-19; chủ động phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan trình Chính phủ thông qua Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19; trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 quy định về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 và phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện Gói hỗ trợ An sinh xã hội đến đúng đối tượng, nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả.
Công tác tham mưu, đề xuất thực hiện các giải pháp nêu trên của Ngành LĐTBXH đã góp phần quan trọng trong thực hiện thành công “mục tiêu kép” vừa phòng chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân, vừa phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội trong trạng thái bình thường mới.
- Hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch Cộng đồng văn hóa xã hội ASEAN năm 2020
Trong những năm qua, thực hiện phân công của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH với vai trò Phó Chủ tịch Ủy ban Quốc gia và Chủ tịch Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN, Bộ đã thực hiện tốt vai trò đầu mối triển khai các hoạt động của Cộng đồng Văn hóa xã hội ASEAN, tiếp tục đẩy mạnh triển khai Chiến lược hội nhập quốc tế về lao động và xã hội trong khuôn khổ song phương, đa phương, ASEAN và các tổ chức phi chính phủ.
- Niềm tin của người dân về chính sách xã hội được nâng lên
Quan tâm đến quyền lợi của người dân và cộng đồng xã hội, công tác trả lời cử tri, chất vấn của các đại biểu Quốc hội; tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo được Lãnh đạo Bộ đặc biệt quan tâm,
Báo cáo điều tra dư luận xã hội số 9989 ngày 05/01/2021 của Ban Tuyên giáo Trung ương cho thấy, niềm tin của Nhân dân về đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hôi, thực hiện tốt chính sách người có công, tỷ lệ đánh giá tốt chiếm 72%; về xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, tỷ lệ đánh giá tốt chiếm 68%, tăng 13 bậc so với năm 2019. Đây là kết quả vô giá, thể hiện sự quan tâm và sự nỗ lực của Đảng và Nhà nước, các cấp, các ngành, các địa phương trong triển khai các chính sách an sinh xã hội.
Hải An